Showing posts with label tai khoan. Show all posts
Showing posts with label tai khoan. Show all posts

Nguyên lý kế toán - Nội dung và ý nghĩa của phương pháp tài khoản kế toán

___________________________________________________________________

1 Nội dung và ý nghĩa của phương pháp tài khoản
Phương pháp tài khoản là một trong các phương pháp hạch toán kế toán nhằm thông tin và kiểm tra về trạng thái, về sự vận động và mối liên hệ giữa các đối tượng hạch toán kế toán theo từng loại tài sản, nguồn vốn cũng như từng quá trình kinh doanh.
Nội dung của phương pháp tài khoản có thể cụ thể hóa như sau:
- Theo dõi, phản ánh tình hình biến động của từng đối tượng hạch toán kế toán
- Cung cấp thông tin cho nhà quản lý về tình hình biến động tăng, giảm và hiện có của từng đối tượng hạch toán kế toán trong mối quan hệ với các đối tượng khác. Với nội dung như trên, phương pháp tài khoản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác hạch toán kế toán:
- Thông qua phương pháp tài khoản, các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh được sắp xếp, phân loại theo từng đối tượng hạch toán kế toán, từng loại hoạt động kinh doanh nhằm giúp cho việc hệ thống hóa và tổng hợp thông tin được thuận lợi hơn.
- Thông báo cho nhà quản lý về tình hình từng loại tài sản, nguồn vốn và từng loại hoạt động của đơn vị trong mối quan hệ tương hỗ với nhau.
- Là cơ sở để thực hiện phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán. Để thực hiện được những nội dung của phương pháp tài khoản kế toán, trước hết cần phải có những hiểu biết nhất định về tài khoản kế toán.

2 Tài khoản kế toán
2.1 Khái niệm tài khoản kế toán
Tài khoản kế toán là hình thức mô phỏng của sổ kế toán; là biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán được sử dụng để phản ánh tình hình về sự vận động của từng đối tượng hạch toán kế toán theo từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn, từng loại quá trình hoạt động.
2.2 Cơ sở và nguyên tắc thiết kế tài khoản kế toán
CƠ SỞ
NGUYÊN TẮC
1/ Căn cứ vào nội dung của đối tượng hạch toán kế toán Đối tượng hạch toán kế toán gồm ba loại cơ bản đó là tài sản, nguồn vốn và quá trình hoạt động của đơn vị.
=> 1/ hệ thống tài khoản phải phàm ánh được ba loại cơ bản của đối tượng hạch toán kế toán: Tài sản, Nguồn vốn và quá trình hoạt động.
2/ Căn cứ tính vận động của đối tượng hạch toán kế toán Các đối tượng hạch toán kế toán luôn có hai chiều hướng vận động ngược nhau: hoặc tăng lên hoặc giảm xuống.
=>2/ Tài khoản kế toán phải được thiết
kế theo kiểu hai bên đối xứng nhau để
theo dõi sự vận động tăng giảm của từng
đối tượng hạch toán kế toán .
3/ Căn cứ vào tính đa dạng của đối tượng
hạch toán kế toán
Mỗi đối tượng thường được chia thành
nhiều đối tượng chi tiết hơn.
=>3/ Tài khoản kế toán phản ánh mỗi
đối tượng phải được thiết kế gồm tài
khoản tổng hợp và các tài khoản phân
tích để theo dõi nội dung chi tiết của
từng đối tượng tổng hợp.
4/ Căn cứ vào tính vận động không đồng bộ giữa giá trị và hiện vật của một số đối tượng hạch toán kế toán trong một số trường hợp đặc biệt.
=>4/ Bên cạnh các tài khoản kế toán thông thường cần phải có các tài khoản điều chỉnh để biểu hiện chính xác các đối tượng hạch toán kế toán có sự thay đổi giá trị nhưng không thay đổi về hiện vật.
5/ Căn cứ vào tính đối lập tương đối của hai đối tượng hạch toán kế toán cơ bản là: Tài sản và nguồn vốn
=>5/ Tài khoản kế toán phản ánh tài sản được thiết kế ngược chiều với tài
khoản phản ánh nguồn vốn.

Nguyên lý kế toán - Kết cấu tài khoản kế toán

__________________________________________________________________
5.1. Kết cấu chung
Kết cấu chung của tài khoản kế toán như sau:
 Về hình thức tài khoản được biểu hiện hình chữ "T”.
Một tài khoản gồm có:
- Tên tài khoản phản ánh khái quát nội dung đối tượng hạch toán kế toán.
- Số hiệu tài khoản ký hiệu bởi các chữ số và có thể kèm theo chữ cái ( khi cần thiết).
- Phần bên trái của tài khoản gọi là bên Nợ, phần bên phải của tài khoản gọi là bên Có. Chúng được dùng đê theo dõi sự biến động tăng, giảm (hoặc ngược lại) của các đối tượng hạch toán kế toán được phản ánh vào tài khoản;
- Số dư đầu kỳ hoặc cuối kỳ biểu hiện giá trị hiện có của đối tượng hạch toán kế toán tại thời điểm đầu kỳ hoặc cuối kỳ. Các số dư có thể được phản ánh ở bên Nợ hoặc bên Có tùy thuộc vào tính chất của đối tượng hạch toán kế toán được phản ánh; Nếu là tài sản thì số dư được phản ánh ở bên Nợ của tài khoản, trái lại nếu là nguồn vốn thì số dư được phản ánh ở bên Có của tài khoản;
- Sự biến động tăng giảm của các đối tượng trong kỳ được biểu hiện bởi số phát sinh trong kỳ, bao gồm số phát sinh tăng và số phát sinh giảm. Số phát sinh tăng và số phát sinh giảm luôn luôn được biểu thị ở các bên ngược nhau. Nếu đối tượng nào có số phát sinh tăng được hạch toán vào bên Nợ thì phát sinh giảm sẽ được hạch toán vào bên Có và ngược lại.
Theo nguyên tắc cân đối giữa đầu ra với đầu vào, giữa tăng và giảm ta luôn có:
Từ kết cấu chung của tài khoản kế toán, ta xem xét kết cấu từng loại tài khoản
phản ánh các đối tượng hạch toán kế toán cơ bản, gồm có tài khoản phản ánh tài sản, tài khoản phản ánh nguồn vốn và tài khoản phản ánh quá trình kinh doanh.
Số dư cuối kỳ = Số dư đầu kỳ + Số phát sinh tăng trong kỳ - Số phát sinh giảm trong kỳ

5.2. Kết cấu của tài khoản phản ánh tài sản
 Nhìn vào kết cấu tài khoản phản ánh tài sản có thể rút ra các kết luận như sau:
- Số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ được phản ánh vào bên Nợ của tài khoản.
- Số phát sinh tăng được phản ánh vào bên Nợ của tài khoản.
- Số phát sinh giảm được phản ánh vào bên Có của tài khoản.
- Cách xác định số dư cuối kỳ vẫn tuân theo công thức tổng quát như phần trình
bày ở kết cấu chung của tài khoản kế toán. 

5.3. Kết cấu của tài khoản phản ánh nguồn vốn
 Từ kết cấu tài khoản phản ánh nguồn vốn có thể rút ra các kết luận như sau:
- Số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ được phản ánh vào bên Có của tài khoản.
- Số phát sinh tăng được phản ánh vào bên Có của tài khoản.
- Số phát sinh giảm được phản ánh vào bên Nợ của tài khoản.
- Cách xác định số dư cuối kỳ vẫn tuân theo công thức tổng quát như phần trình
bày ở kết cấu chung của tài khoản kế toán.

5.4. Kết cấu của tài khoản phản ánh quá trình kinh doanh
Tài khoản phản ánh quá trình kinh doanh là các tài khoản phản ánh sự vận động
phối hợp giữa các đối tượng hạch toán kế toán trong các quá trình hoạt động của các đơn vị kinh doanh cụ thể, ví dụ như quá trình mua hàng, quá trình sản xuất sản phẩm, quá trình tiêu thụ sản phẩm...
Quá trình kinh doanh chỉ là quá trình trung gian làm cho tài sản và nguồn vốn biến đổi, do vậy các tài khoản phản ánh quá trình kinh doanh sẽ không có số dư đầu kỳ
hoặc cuối kỳ như các tài khoản phản ánh tài sản hoặc nguồn vốn. Chúng chỉ là những tài khoản có tính chất chuyển hóa trung gian giữa các đối tượng tài sản và nguồn hình thành tài sản.
Có thể chia các tài khoản phản ánh quá trình kinh doanh thành ba nhóm: nhóm
các tài khoản có nguồn gốc từ tài khoản phản ánh tài sản, nhóm các tài khoản có nguồn gốc từ tài khoản phản ánh nguồn vốn và nhóm các tài khoản mang tính hỗn hợp.
- Những tài khoản có nguồn gốc từ tài khoản phản ánh tài sản là nhóm các tài khoản chi phí, chúng có kết cấu tương tự như các tài khoản phản ánh tài sản nhưng có một điểm khác so với tài khoản phản ánh tài sản là không có số dư đầu kỳ, cuối kỳ. Ví dụ: Tài khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (621), tài khoản chi phí sản xuất chung (627), tài khoản Chi phí bán hàng (641), tài khoản Chi phí quản lý doanh nghiệp (642), tài khoản chi phí hoạt động tài chính (635) ...
- Những tài khoản có nguồn gốc từ tài khoản phản ánh nguồn vốn thường là các tài khoản phản ánh thu nhập hoặc doanh thu, chúng có kết cấu tương tự như tài khoản phản ánh nguồn vốn nhưng không có số dư đầu kỳ, cuối kỳ, như là: tài khoản Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (511), tài khoản Doanh thu nội bộ (512), tài khoản Doanh thu hoạt động tài chính (515), tài khoản Thu nhập khác (711) ...
- Những tài khoản mang tính hỗn hợp là những tài khoản có kết cấu phản ánh cả chi phí, doanh thu và thu nhập của quá trình kinh doanh. Chức năng cơ bản của những tài khoản này là so sánh và xác định kết quả. Cũng như kết cấu của các nhóm trên, nhóm tài khoản này cũng không có số dư đầu và cuối cuối kỳ. Ví dụ: tài khoản “ Xác định kết quả kinh doanh “ (911).

Download toàn bộ bài viết để tham khảo tại đây

Nguyên lý kế toán - Yêu cầu và nguyên tắc của hạch toán kế toán

___________________________________________________________________

1. Yêu cầu đối với hạch toán kế toán
* Thông tin hạch toán kế toán cung cấp phải phản ánh chính xác, trung thực và khách quan thực tế hoạt động cuả đơn vị.
* Thông tin hạch toán kế toán phải được sắp xếp, phân loại và khi cung cấp phải đảm bảo so sánh được. Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp phải được tính toán và trình bày nhất quán để có thể so sánh được khi cần thiết.
* Thông tin hạch toán kế toán được ghi chép và báo cáo hay phản ánh kịp thời các hoạt động kinh tế tài chính xảy ra, bảo đảm đúng hoặc trước thời hạn không được chậm trễ, giúp cho nhà quản lý và các cơ quan Nhà nước nhận biết kịp thời hoạt động của đơn vị.
* Thông tin hạch toán kế toán cung cấp phải phản ánh đầy đủ, toàn diện về mọi hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị. Trên cơ sở những thông tin được cung cấp đầy đủ đó, nhà quản lý mới có thể ra các quyết định đúng đắn, thúc đẩy sự phát triển của đơn vị.
* Thông tin và số liệu kế toán được cung cấp hoặc trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo cho các đối tượng sử dụng thông tin đều nhìn nhận đúng về thực trạng hoạt động của đơn vị.

2. Một số nguyên tắc kế toán
*  Khái niệm thực thể kinh doanh (hay còn gọi là đơn vị kế toán)
Khái niệm này còn chỉ ra rằng đơn vị kế toán là một tổ chức độc lập với các chủ thể, cá nhân khác và độc lập ngay cả với bản thân người chủ sở hữu đơn vị kinh doanh.
*  Khái niệm hoạt động liên tục (giả thiết hoạt động liên tục)
Khái niệm này chỉ là một giả thiết nhưng mang tính bắt buộc, được áp dụng cho các đơn vị kế toán. Theo đó báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là các đơn vị đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động bình thường trong tương lai gần.
*  Khái niệm thước đo tiền tệ
Thước đo tiền tệ là đặc trưng cơ bản của hạch toán kế toán. Tất cả các đối tượng, các quá trình hoạt động cũng như các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều
phải phản ánh thông qua một thước đo tiền tệ thống nhất - gọi là đơn vị tiền tệ. Chỉ có thước đo tiền tệ thống nhất mới là đơn vị tính toán, tổng hợp các chỉ tiêu phục vụ cho công việc phân tích, so sánh, đánh giá.
* Khái niệm kỳ kế toán
Khái niệm này cho rằng thời gian hoạt động của các đơn vị kế toán cần phải được chia thành nhiều kỳ kế toán nối tiếp nhau.Và kỳ kế toán được hiểu là khoảng thời gian xác định từ thời điểm đơn vị bắt đầu ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khóa sổ kế toán để lập báo cáo kế toán, tài chính. Báo cáo kế toán, tài chính phải phản ánh được tình hình và kết quả hoạt động, tình hình tài sản, nguồn vốn...nhằm phục vụ cho yêu cầu so sánh, tổng hợp, kiểm tra và đánh giá của các đối tượng khác nhau. Kỳ kế toán có thể là kỳ kế toán tháng, kỳ kế toán quý (3 tháng) và kỳ kế toán năm. Kỳ kế toán bắt đầu tính từ ngày đầu tháng ( quý, năm) đến hết ngày cuối tháng ( quý, năm). Đối với đơn vị mới thành lập kỳ kế toán đầu tiên tính từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đến hết ngày cuối kỳ.
* Nguyên tắc giá vốn ( còn gọi là giá phí, giá gốc)
Nguyên tắc này yêu cầu khi xác định giá của các tài sản phải căn cứ vào số tiền hoặc tương đương tiền đơn vị đã chi phí thực tế để hình thành nên tài sản- gọi là giá phí, giá gốc hay giá vốn ban đầu. Giá gốc không được thay đổi theo thời gian trừ khi có quy định khác trong
chuẩn mực kế toán.
* Nguyên tắc thận trọng
Nguyên tắc này yêu cầu nhà quản lý là khi đứng trước nhiều giải pháp phải lựa chọn thì hãy lựa chọn giải pháp ít ảnh hưởng nhất đến vốn chủ sở hữu.
Nguyên tắc còn nhắc nhở người làm công tác kế toán phải chú ý: chỉ ghi nhận thu nhập khi có đủ chứng cứ chắc chắn, ngược lại các khoản chi phí phải được ghi ngay khi chỉ mới có dấu hiệu phát sinh.
* Nguyên tắc phù hợp (tương xứng)
Nguyên tắc phù hợp yêu cầu việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó.
* Nguyên tắc ghi nhận doanh thu (áp dụng cho công tác kế toán của các doanh nghiệp)
Nguyên tắc này quy định cách xác định thời điểm ghi nhận doanh thu. Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm đơn vị chuyển giao cho người mua quyền sở hữu hàng hoá, sản phẩm, lao vụ...và ngược lại đơn vị được sở hữu một khoản
tiền hay một khoản nợ tương ứng.
* Nguyên tắc nhất quán
Nguyên tắc này yêu cầu trong công tác kế toán phải bảo đảm các khái niệm, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các chính sách và các phương pháp kế toán đơn vị đã chọn được thực hiện nhất quán (thống nhất) từ kỳ kế toán này sang kỳ kế toán khác. Các khái niệm, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các chính sách và các phương pháp kế toán đơn vị đã chọn phải được áp dụng ít nhất trong một kỳ kế toán năm.
* Nguyên tắc khách quan
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi các tài liệu do kế toán cung cấp, các số liệu do kế toán phản ánh cần phải mang tính khách quan, không bị bóp méo, xuyên tạc và có đủ cơ sở để thẩm tra khi cần thiết. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo độ tin cậy cao trong công tác kế toán, đặc biệt là về nguồn thông tin cung cấp cho nhà quản lý đơn vị.
* Nguyên tắc trọng yếu
Nguyên tắc trọng yếu cho rằng nhà quản lý chỉ nên quan tâm những vấn đề trọng yếu mang tính quyết định đến bản chất và nội dung của công tác kế toán, không nên quan tâm đến những yếu tố không trọng yếu, không cơ bản, không phản ánh bản chất của vấn đề.
* Nguyên tắc công khai
Nguyên tắc công khai yêu cầu các báo cáo tài chính phải phản ánh đầy đủ các thông tin quan trọng liên quan đến hoạt động của đơn vị và phải được công khai theo luật định. Những thông tin trên báo cáo phải rõ ràng, dễ hiểu và phải có các giải trình cần thiết phục vụ cho các đối tượng quan tâm.

Nguyên lý kế toán - Đối tượng, chức năng và nhiệm vụ của kế toán

___________________________________________________________________.
1.1.Khái niệm kế toán
Kế toán là việc thu thập, kiểm tra, phân tích và xử lý thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.

1.2.Đối tượng của kế toán
Đối tượng cơ bản của kế toán là: tài sản, nguồn hình thành tài sản ( nguồn vốn) và sự vận động của chúng và các quan hệ pháp lý trong quá trình hoạt động của đơn vị.

1.2.1.Tài sản
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển giá trị, tài sản được chia thành hai nhóm lớn là tài sản cố định và tài sản lưu động. Trong đó:
* Tài sản cố định
Tài sản cố định là những tư liệu lao động thoả mãn hai điều kiện:
- Về thời gian sử dụng: có thời gian sử dụng dài thường là trên một năm
- Về giá trị: phải lớn hơn một giá trị quy định.
Tài sản cố định được chia thành các loại:
- Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái biểu hiện dưới dạng vật chất, cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị.
- Tài sản cố định vô hình là những tài sản có hình thái biểu hiện ở dạng phi vật chất , như: bằng phát minh sáng chế, quyền sử dụng đất, nhãn hiệu thương mại...
- Tài sản cố định tài chính là những loại chứng chỉ có giá với thời hạn dài trên một năm và giá trị cũng thoả mãn theo quy định của Nhà nước.
- Tài sản cố định khác
* Tài sản lưu động
Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động được hiểu là các loại đối tượng lao động và một số tư liệu lao động không thoả mãn điều kiện làm tài sản cố
định, bao gồm:
- Các loại tiền: tiền mặt (gồm tiền mặt bằng đồng Việt Nam, bằng các loại ngoại tệ, hoặc bằng vàng bạc kim đá quý...); tiền gửi ngân hàng (gồm tiền gửi ngân
hàng bằng đồng Việt Nam, bằng các loại ngoại tệ, hoặc bằng vàng bạc kim đá quý...); tiền đang chuyển.
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: tín phiếu, ngân phiếu, thương phiếu...
- Các khoản phải thu: đây là tài sản của doanh nghiệp đang bị các đối tượng khác chiếm dụng.
- Các loại hàng dự trữ cho sản xuất : nguyên vật liệu, công cụ lao động,   sản phẩm dở dang.
- Các loại hàng dự trữ cho lưu thông: thành

1.2.2.Nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn)
Các tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Các nguồn vốn này được sắp xếp vào hai loại lớn: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
* Nguồn vốn chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn quan trọng do người chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ ra từ khi thành lập doanh nghiệp và hàng năm thường được bổ sung từ lợi nhuận kinh doanh và sự đóng góp của các chủ sở hữu. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm nguồn vốn kinh doanh và các quỹ chuyên dùng, các nguồn vốn đầu tư và lợi nhuận chưa phân phối.
* Nợ phải trả
Đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng nhằm đáp ứng đủ cho nhu cầu vốn sản
xuất kinh doanh. Nợ phải trả bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn của ngân hàng, của các tổ chức kinh tế, của các cá nhân... Nguồn vốn này luôn luôn tồn tại song song với nguồn vốn chủ sở hữu, sự hiện hữu của nó như một lời nhắc nhở các doanh nghiệp cần phải thận trọng và có trách nhiệm trong việc hoàn trả.
Về nội dung, các nợ phải trả chia thành:
+ Nợ ngắn hạn là những khoản nợ có thời hạn dưới một năm, gồm:
+ Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời hạn trên một năm, gồm:

1.2.3.Sự vận động của tài sản và nguồn vốn
Quá trình kinh doanh là quá trình sử dụng tài sản của doanh nghiệp theo kế hoạch đã vạch ra nhằm mục đích sinh lợi. Qua hoạt động của mình, doanh nghiệp đã làm cho các tài sản, nguồn hình thành tài sản vận động tăng, giảm, chuyển đổi từ hình thái này sang hình thái khác. Sự vận động đó có thể làm cho tổng tài sản và tổng nguồn vốn của doanh nghiệp lớn lên, thu hẹp lại hoặc không đổi.Và sự vận động này là biểu hiện của quá trình kinh doanh.

1.2.4.Mối liên hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Tài sản và nguồn vốn có mối liên hệ mật thiết với nhau, biểu hiện ở việc nguồn hình thành nên tài sản.
Bất kỳ một tài sản nào cũng được hình thành từ một hoặc một số nguồn nhất định hoặc ngược lại một nguồn vốn nào đó bao giờ cũng là nguồn đảm bảo cho một hoặc một số các tài sản.
- Phương trình kế toán tổng quát:
Tổng giá trị tài sản = Tổng nguồn vốn (1)
=>Tổng giá trị tài sản = Tổng NV chủ sở hữu + Tổng Nợ phải trả (2)
- Phương trình kế toán cơ bản:
Tổng NV chủ sở hữu = Tổng giá trị tài sản - Tổng nợ phải trả (3)
Việc phản ánh và giám đốc các loại tài sản, nguồn vốn và sự biến động của các đối tượng tài sản, nguồn vốn như trên vừa là nội dung cơ bản vừa là yêu cầu khách quan của công tác kế toán.

1.3.Chức năng của hạch toán kế toán
* Chức năng phản ánh (hay còn gọi là chức năng thông tin)
Chức năng phản ánh được biểu hiện ở việc kế toán theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị thông qua việc tính toán, ghi chép, phân loại, xử lý và tổng kết các dữ liệu liên quan đến hoạt động sử dụng vốn và tài sản của đơn vị.
* Chức năng giám đốc (Chức năng kiểm tra)
Chức năng giám đốc thể hiện ở việc thông qua số liệu đã được phản ánh, kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị làm cơ sở cho việc đánh giá đúng đắn và kiểm soát chặt chẽ tình hình chấp hành luật pháp của các đơn vị trong công tác quản lý kế toán - tài chính. Chức năng này nhằm giúp cho hoạt động của đơn vị ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
* Mối liên hệ giữa các chức năng
Chức năng phản ánh và chức năng giám đốc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện như sau: Chức năng phản ánh là đối tượng của chức năng giám đốc, chức năng giám đốc là công cụ đôn đốc chức năng phản ánh được chính xác, rõ ràng và đầy đủ hơn.

1.4.Nhiệm vụ của hạch toán kế toán
* Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
* Kiểm tra giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi
phạm pháp luật về tài chính, kế toán.
* Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.
* Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.

Nguyên lý kế toán - Chứng từ kế toán và kiểm kê

__________________________________________________________________

1.1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế, pháp lý của chứng từ kế toán
Chứng từ là loại giấy tờ, vật mang tin (đĩa vi tính, đĩa CD) dùng để minh chứng cho các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành. Kế toán căn cứ vào nội dung chứng từ để phân tích, ghi chép vào sổ sách kế toán.
Ví dụ: Phiếu chi, Phiếu thu, Hóa đơn bán hàng,.. Giấy báo nợ, Giấy báo có, Bảng thanh toán lương,… Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho,…
Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải có chứng từ kế toán xác minh mới bảo đảm tính pháp lý.