Showing posts with label hanh vi ca nhan. Show all posts
Showing posts with label hanh vi ca nhan. Show all posts

Nền tảng của hành vi cá nhân- Đặc tính tiểu sử

___________________________________________________________________

1. Tuổi tác
Quan hệ tuổi tác – kết quả thực hiện công việc: được quan tâm ngày càng nhiều, vì sao?
Hai lý do:
Nhiều người tin rằng tuổi càng cao, kết quả thực hiện càng kém;
Tại nhiều nước, độ tuổi lực lượng lao động ngày càng cao.
Các ưu điểm và nhược điểm của người lớn tuổi:
Ưu
Có nhiều kinh nghiệm.
Khả năng phán đoán.
Lương tâm công việc.
Kết ước đối với chất lượng.
Nhược
Thiếu độ uyển chuyển.
Ít muốn thay đổi nhất là đối với công nghệ.
Dưới đây là một vài kết luận từ thực tế nghiên cứu mối tương quan giữa tuổi tác – công việc (xét theo các biến số mức thuyên chuyển, mức vắng mặt, năng suất và mức thoả mãn trong công việc).
Bảng1 : Mối tương quan giữa tuổi tác – công việc

Các biến số

Mức thuyên chuyển
Mức vắng mặt
Năng suất
Mức thỏa mãn
Càng lớn tuổi, càng ít rời bỏ công việc
Lý do:
- Ít có cơ hội tìm kiếm việc làm
- Công việc đang làm đang ở mức lương cao
- Lợi ích hưu trí
Mối quan hệ tuổi tác-vắng mặt được xem xét dưới góc độ vắng mặt theo ý muốn và vắng mặt ngoài ý muốn:
- Vắng mặt theo ý muốn:
So với tuổi trẻ, thấp hơn
- Vắng mặt ngoài ý muốn:
So với tuổi trẻ, cao hơn vì sức khoẻ kém hơn và thời gian hồi phục chậm hơn.
Quan niệm chung:
- Tuổi cao thì tốc độ, sự nhanh nhẹn, sức mạnh suy giảm, công việc lâu ngày sẽ trở nên nhàm chán, thiếu tính kích thích " giảm năng suất.
- Thực tế nghiên cứu:
Tuổi tác-kết quả thực hiện công việc không liên hệ với nhau. Nếu có sự suy giảm năng suất do tuổi tác thì được bù vào bằng kinh nghiệm.
- Có sự tương quan đồng biến giữa tuổi tác và sự thỏa mãn.
- Tuy nhiên, mức độ thỏa mãn sẽ thấp hơn người lao động trẻ tuổi nếu có sự thay đổi mau chóng làm cho kỹ năng của người lớn tuổi trở nên dễ lạc hậu.
2. Giới tính
Tâm lý chung
- Nữ giới có xu hướng thích phục tùng.
- Nam giới thích chinh phục và thành đạt.
Sự khác biệt này ngày càng giảm vì tỉ lệ nữ giới làm việc ngày càng tăng và vai trò càng quan trọng. Trong công việc, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng phân tích, thích cạnh tranh, giao tế, khả năng học tập,… không có sự khác biệt đáng kể
Bảng 2 : Mối tương quan giữa giới tính và công việc
Các biến số
Mức thuyên chuyển
Mức vắng mặt
Năng suất
Mức thoả mãn
Không có sự khác biệt lớn giữa nam giới –nữ giới.





Nữ giới nhiều hơn nam giới do từ trong quá khứ hoặc do nền văn hóa của nhiều nước vốn coi phụ nữ phải gánh vác trách nhiệm gia đình.
Không có sự khác biệt lớn giữa nam giới –nữ giới.
Không có sự khác biệt lớn giữa nam giới –nữ giới.
3. Tình trạng gia đình
Đây là một vấn đề cần nghiên cứu nhiều hơn, nhất là đối với những cặp vợ chồng đã ly dị, hoặc không kết hôn, những người bố nuôi con hoặc những bà mẹ nuôi con.

Bảng 3 : Mối tương quan giữa tình trạng gia đình và công việc
Các biến số
Mức thuyên chuyển
Mức vắng mặt
Năng suất
Mức thoả mãn
So với người chưa lập gia đình, ít hơn vì trách nhiệm gia đình (không dám phiêu lưu nếu chưa tìm được một công việc chắc chắn hoặc đó là một công việc hòan toàn mới mẻ, mức gắn bó chưa biết.
So với người chưa lập gia đình, ít hơn vì phải bình ổn mức thu nhập.
So với người chưa lập gia đình, nhiều hơn.
Không có bằng chứng rõ ràng.
4. Thâm niên công tác
Bảng 4 : Mối tương quan giữa thâm niên công tác và công việc
Các biến số
Mức thuyên chuyển
Mức vắng mặt
Năng suất
Mức thoả mãn
Thâm niên càng cao, càng ít thuyên chuyển (tương quan nghịch biến).
Tương quan nghịch biến.
Có năng suất cao hơn nhờ vào kinh nghiệm công việc
Là chỉ số dự báo khá chắc chắn để biết mức thỏa mãn.

download toàn bộ bài viết tại đây

Nền tảng của hành vi cá nhân - Tính cách

_____________________________________________________
Định nghĩa
Tính cách là phong thái tâm lý cá nhân độc đáo quy định cách thức hành vi cá nhân phản ứng trong môi trường xã hội và hoạt động tổ chức. Tính cách được biểu hiện trong hệ thống thái độ của cá nhân và trong các phẩm chất, ý chí của con người. Một cách đơn giản, tính cách của một cá nhân là sự kết hợp của các đặc điểm tâm lý mà chúng ta sử dụng để phân loại người đó.
Trong nghiên cứu hành vi tổ chức, nhiều nghiên cứu đã chứng minh năm tính cách cơ bản làm nền tảng cho tất cả các tính cách khác. Năm tính cách đó là :
Tính hướng ngoại : dễ hội nhập, hay nói và quyết đoán.
Tính hòa đồng: hợp tác và tin cậy
Tính chu toàn: trách nhiệm, cố chấp và định hướng thành tích
Tính ổn định tình cảm: bình tĩnh, nhiệt tình, tích cực, chắc chắn.
Tính cởi mở: có óc tưởng tượng, nhạy cảm về nghệ thuật.
Các thuộc tính chính yếu của tính cách ảnh hưởng đến hành vi trong tổ chức:
Các thuộc tính của tính cách dưới đây là những chỉ số dự báo rất đáng tin cậy để dự đoán các hành vi trong tổ chức.
-  Mức làm chủ (locus of control): gồm hai loại, nếu ở mức cao thì gọi là nội thuộc, mức thấp là ngoại thuộc.
+ Nội thuộc: Những người tin rằng mình làm chủ số phận của mình.
+ Ngoại thuộc: Những người cho rằng số phận không do mình định đoạt, chủ yếu do may rủi đẩy đưa.

Nội thuộc
Ngoại thuộc
- Thông thường thực hiện tốt các công việc;
- Có động cơ thúc đẩy hoàn thành công việc;
- Luôn cố gắng kiểm sóat công việc, môi trường.
- Phù hợp với những công việc yêu cầu có sáng kiến và hành động độc lập.

- Ít hài lòng, thỏa mãn trong công việc.
- Tỷ lệ vắng mặt không phép cao.
- Dễ bị tha hóa trong công việc.
- Khó tham gia công việc.
- Không xem các kết quả của tổ chức một phần là của chính mình, dù rất coi trọng các kết quả này
- Hay ta thán và thích chỉ thị.
- Thích những công việc có nề sẵn hoặc mang tính chất sự vụ hằng ngày.

 Tính độc đoán : rất thực dụng, không thích tình cảm và luôn cho rằng “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Tùy theo công việc và cách đánh giá mà một người độc đoán được đánh giá cao hay thấp.
Ví dụ 1: Thỏa thuận lao động (công việc yêu cầu các kỹ năng đàm phán và giải quyết bất đồng): rất phù hợp.
Ví dụ 2: Chăm sóc khách hàng-không phù hợp.
-  Tính tự trọng: trọng mình và trọng kẻ khác.
Người ít tự trọng thường dễ bị ảnh hưởng từ bên ngoài, phụ thuộc vào đánh giá của người khác, dễ tin tưởng và hành động theo những người họ tôn trọng. Về mặt quản lý, họ cố gắng làm vui lòng người khác, cho nên ít khi chiếm được vị trí cao.
Người tự trọng luôn luôn đòi hỏi hoàn thành, thành công trong công việc, chấp nhận rủi ro trong lựa chọn công việc, và hình như thích chọn các công việc ít mang tính hình thức, ước lệ,…
Tự điều chỉnh: khả năng điều chỉnh hành vi của mình thích ứng với các yếu tố, tình hình bên ngoài. Họ là những người dễ thăng tiến trong nghề nghiệp, nhất là dễ có được các chức vụ cao trong quản lý.
Rất nhạy cảm với ngoại giới, chú ý đến những hành vi người khác, hòa đồng với họ;
Có thể hành động khác nhau trong các tình hình khác nhau.
Có thể xuất hiện với tư cách là người thuộc về số đông, và đồng thời với tư cách cá nhân.
Chấp nhận rủi ro:
Người sẵn sàng chấp nhận rủi ro thường quyết định mau chóng, không đợi phải thu thập thông tin đầy đủ. Nhưng qua nghiên cứu, tỷ lệ quyết định thành công của những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro không vì thế mà kém hơn so với nhóm người đối trọng.
Rất phù hợp nếu lãnh vực môi giới chứng khoán, buôn bán bất động sản,…vì đòi hỏi quyết định nhanh
Không phù hợp nếu đó là kế toán hoặc kiểm toán.

Download toàn bộ bài viết tại đây