Showing posts with label cung cap. Show all posts
Showing posts with label cung cap. Show all posts

Kinh tế vi mô - Cung


___________________________________________________________________

1.  Khái niệm
Cung: Cung về một loại hàng hoá cho ta biết số lượng hàng hoá mà người sản xuất sẵn sàng cung ứng và bán ra tương ứng với các mức giá khác nhau.
Cung cá nhân: Là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà một người bán ( một doanh nghiệp ) sẵn sàng bán ra thị trường ở mỗi mức giá mà người ấy chấp nhận được.
Cung của thị trường: Là tổng mức cung của các cá nhân ở mỗi mức giá
2. Các yếu tố xác định hàm số cung
2.1. Các yếu tố xác định cung
Cung về hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào giá cả của bản thân hàng hóa đó mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như :
+ Công nghệ sản xuất
+ Giá cả các yếu tố sản xuất đầu vào
+ Tác động của chính phủ
+ Số người sản xuất
+ Các kỳ vọng
2.2. Hàm số  cung 
Từ những yếu tố xác định cung có thể trình bày cung dưới dạng hàm số :
Qs= f(Px, Tx, PKL, NS, EX))
P =  aQ  +  b  hay  Q = aP  +  b ( với a > 0 )
PX   :   giá cả hàng hóa x
         TX   :   công nghệ sản xuất hàng hóa X
         PKL :   giá cả đầu vào sản xuất
         NS  :   số người sản xuất
         EX  :   các kỳ vọng liên quan đến ngành sản xuất hàng hóa X
3.  Đường cung
3.1.  Biểu cung
Biểu cung là bảng số liệu mô tả số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán tương ứng với các mức giá cả khác nhau.
3.2. Đường cung
Đường cung là đường mô tả cung về hàng hóa trên đồ thị trong mối tương quan với giá cả của nó ( các yếu tố khác không đổi ). Đường cung được vẽ từ biểu cung  hay từ hàm số cung với dạng đơn giản

3.3. Luật cung
Luật cung được phản ánh qua tính chất của đường cung (đường S trên đồ thị ) đường cung dốc lên cho ta biết : cung về hàng hóa hay dịch vụ và giá cả của nó đồng biến với nhau : khi giá tăng thì cung tăng và ngược lại.
Một số ngoại lệ : các hàng hóa nông phẩm và hàng truyền thống được sản xuất dựa trên năng lựa sản xuất , thời vụ và sự phán đoán thị trường.
3.4. Sự dịch chuyển của đường cung
* Sự thay đổi của cung dọc theo đường cung.
Sự thay đổi của cung dọc theo đường cung là sự thay thay đổi lượng cung về hàng hóa khi giá cả của nó thay đổi  (hàm  số cung không thay đổi).
* Sự dịch chuyển của đường cung
Sự dịch chuyển của đường cung là sự thay đổi vị trí của đường cung. Trên đồ thị : đường cung dịch chuyển hoàn toàn sang bên phải hay bên trái.

* Nguyên nhân của sự dịch chuyển của đường cung
Do các yếu tố ngoài giá cả của hàng hóa tác động như : công nghệ sản xuất thay đổi , giá cả đầu vào thay đổi … Khi các yếu tố này thay đổi hàm cung thay đổi .

Nguồn: giáo trình KTVM

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vi mô - Cân bằng cung cầu

___________________________________________________________________

Cân bằng thị trường là một trạng thái trong đó giá cả và sản lượng giao dịch trên thị trường có khả năng tự ổn định, không chịu những áp lực buộc phải thay đổi. Đó cũng là trạng thái tạo ra được sự hài lòng chung của cả người mua lẫn người bán. Tại mức giá cân bằng, sản lượng hàng hoá mà những người bán sẵn lòng cung cấp ăn khớp hay bằng với sản lượng mà những người mua sẵn lòng mua (vì thế, sản lượng này cũng được gọi là sản lượng cân bằng).
Kết hợp đường cung và cầu thị trường trong cùng một biểu đồ, ta có:

Giá
(P)
Lượng cầu
(QD)
Lượng cung
(QS)
C 
20
5
10
15
15
15
10
25
20
5
35

Ta có thể thấy rằng đường cung và cầu thị trường cắt nhau tại mức giá 10 và lượng là 15. Giá và lượng này biểu thị sự cân bằng mà ở đó lượng cung bằng với lượng cầu. Khi đó, điểm cân bằng được xác lập, tương ứng với điểm E trong biểu đồ dưới đây. Tại mức giá này, người mua và người bán có thể mua và bán với số lượng bất kỳ theo mong muốn. Một khi, giá cân bằng đạt được thì không có lý do nào làm cho giá tăng lên hay giảm xuống (trừ khi có sự thay đổi cung và cầu hàng hóa).
Điểm cân bằng E (PE, QE) có thể được xác định tại mức giá PE, mà ở đó lượng cung (QS)
bằng với lượng cầu (QD). Khi đó, PE  gọi là giá cân bằng và QE là lượng cân bằng.
Giả sử, thị trường có hàm cung và hàm cầu như sau: Hàm cầu:   QD = 25 – P và
Hàm cung: QS = -5 + 2P
Điểm cân bằng E (PE, QE): QD = QS
⇒ 25 − PE    = −5 + 2PE


⇒ PE    = 10, và Q E    = 15
Vậy, điểm cân bằng được xác định tại E (10, 15).
Nếu giá bán cao hơn mức giá cân bằng, thặng dư sẽ xảy ra (do lượng cung vượt quá lượng cầu). Tình huống này minh họa trong biểu đồ dưới. Sự thặng dư buộc các doanh nghiệp phải giảm giá cho đến khi không còn thặng dư nữa (điều này xảy ra tại mức giá cân bằng 10).

 Nếu giá bán dưới mức giá cân bằng, thì thiếu hụt xảy ra (do lượng cầu vượt quá lượng cung). Điều này được minh họa trong biểu đồ dưới đây). Khi thiếu hụt xảy ra, thì các nhà sản xuất sẽ tăng giá bán. Giá bán sẽ tiếp tục tăng cho đến khi không còn thiếu hụt nữa và khi đó giá bán sẽ đạt đến giá cân bằng là 10.

Download toàn bộ bài viết tại đây