Showing posts with label cầu tiền. Show all posts
Showing posts with label cầu tiền. Show all posts

Kinh tế vĩ mô - Mức cầu tiền và cân bằng thị trường tiền tệ


___________________________________________________________________

1.Mức cầu tiền
1. 1. Khái niệm cầu tiền
- Cầu tiền (LP) là lượng tiền mà mọi người muốn nắm giữ. Lượng tiền nắm giữ có thể là tiền mặt ngoài Ngân hàng hoặc tiền gửi sử dụng Séc.
- Theo John Maynard Keynes, có ba động cơ làm cho mỗi người chúng ta muốn nắm giữ tiền: động cơ giao dịch (transactions demand for money), động cơ dự phòng (precautionary demand for money) và động cơ đầu cơ (speculative demand for money). Lượng tiền nắm giữ nhiều hay ít phụ thuộc vào hai yếu tố: lãi suất và thu nhập.

1. 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ:
1.2.1. Lãi suất
            Lãi suất là cái giá phải trả khi vay tiền, hay nói chính xác hơn là cái giá phải trả khi nắm giữ tiền trong tay.
            Đối với cầu giao dịch dự phòng, khi lãi suất tăng thì cầu tiền để giao dịch và dự phòng sẽ giảm. Lý do là khi giữ tiền trong tay người ta phải chịu một khoản chi phí cơ hội, cho dù đó là tiền mặt hay tiền trong tài khoản séc. Chi phí cơ hội của việc giữ tiền là lãi suất mà lẽ ra bạn có thể được hưởng bằng cách này hay cách khác, nếu như không giữ tiền. Như vậy, khi lãi suất
càng cao thì chi phí cơ hội càng lớn. Lúc đó người ta càng ít muốn giữ tiền trong tay, tức là cầu về tiền để giao dịch và dự phòng giảm.
            Đối với cầu đầu cơ, theo Keynes thì lãi suất tăng cũng làm giảm cầu về tiền để đầu cơ.
            Tóm lại, cầu về tiền nghịch biến với lãi suất.
1.2.2. Thu nhập thực tế (sản lượng)
            Đối với cầu giao dịch dự phòng, sản lượng tăng làm cho cầu về tiền để giao dịch và dự phòng tăng. Vì Y tăng => YD tăng C=> tăng => Lượng tiền nắm giữ hàng ngày cũng phải tăng theo. Mặt khác, Y tăng làm cho hộ gia đình có khuynh hướng để tiền dự phòng nhiều hơn, làm tăng cầu về tiền để dự phòng.
            Đối với cầu đầu cơ, sản lượng tăng cũng làm tăng cầu đầu cơ. Bởi vì, thu nhập tăng sẽ làm tăng nguồn tiền cất giữ như một loại tài sản. Do đó, cầu đầu cơ tăng khi sản lượng tăng.
1.2.3. Hàm cầu tiền
Quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi suất và mức cầu tiền được gọi là hàm cầu về tiền. Phương trình đường cầu tiền có dạng:
LP = k.Y - h.i
k,h là các hệ số phản ánh độ nhạy cảm của mức cầu tiền đối với thu nhập và lãi suất.
Đồ thị:

Đồ thị cho biết:
Khi thu nhập tăng tới Y1 thì LP dịch chuyển đến LP1. Tức là cùng với mức lãi suất io nhưng cầu về tiền lớn hơn (LP1>LPo) khi thu nhập tăng lên (Y1>Yo).

2. Cân bằng thị trường tiền tệ
- Thị trường tiền tệ cân bằng khi: MS  = LP

Đồ thị cho thấy: - Eo là điểm cân bằng của thị trường tiền tệ.
- Tại mức lãi suất cân bằng io mức cầu tiền vừa đúng bằng     mức cung tiền.
            Ở mức lãi suất thấp hơn i0 sẽ có mức dư cung trái phiếu tương ứng làm cho giá trái phiếu giảm xuống, lợi tức trái phiếu tăng lên và đẩy lãi suất thị trường lên tới i0.
            Sự dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng của thị trường tiền tệ.
            Đồ thị dưới cho biết:

            Khi NHTW tác động đến mức cung tiền, giả sử là bán trái phiếu hoặc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc dẫn đến lượng cung tiền giảm xuống, đường cung tiền sẽ dịch chuyển từ M0 sang M1 và lãi suất cân bằng sẽ từ io lên i1.
            Giảm cung tiền từ Mo => M1 dẫn đến lãi suất tăng lên để giảm mức dư cầu tiền do mức cung tiền giảm đi.
            Khi thu nhập thực tế GNPr tăng lên => nhu cầu tiền cho giao dịch tăng lên. Với mỗi mức lãi suất, lợi ích cận biên của việc gửi tiền tăng lên và làm tăng mức cầu tiền thực tế, đường cầu tiền sẽ dịch chuyển từ LPo => LP1. Với mức cung tiền M1, lãi suất cân bằng sẽ dịch chuyển từ i1 đến i2 điểm cân bằng mới của thị trường tiền tệ là E”.

Việc kiểm soát tiền tệ thực tế phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô là rất khó. Có hai cách kiểm soát, hoặc là kiểm soát mức cung tiền thì lãi suất thị trường sẽ lên xuống bởi tác động của cầu, hoặc kiểm soát lãi suất (ổn định lãi suất) thì buộc phải để lực lượng thị trường quyết định mức cung tiền. Cả hai cách đều gặp những khó khăn nhất định như khi kiểm soát lượng tiền cơ sở H thì vấp phải vấn đề hạn chế tiền mặt và tín dụng gây khó khăn cho hoạt động NHTM và các hoạt động giao dịch, khi kiểm soát LS lại gặp khó khăn trong nhận biết chính xác đường cầu tiền và sự dịch chuyển của nó,…

Kinh tế vĩ mô - Mức cung tiền và vai trò kiểm soát tiền tệ của ngân hàng trung ương

_________________________________________________________________
1. Tiền cơ sở
- NHTW là cơ quan được quyền phát hành tiền, chủ yếu là tiền mặt, được gọi là tiền cơ sở (hay cơ số tiền).
- Tiền cơ sở (H) = tiền mặt lưu hành (U) + tiền dự trữ trong các NHTM (R).
- Sự quay vòng bộ phận tiền cơ sở làm tăng tổng mức cung tiền => tiền cơ sở còn gọi là tiền mạnh.
2. Hoạt động của ngân hàng thương mại
- Ngân hàng thương mại là DN kinh doanh tiền tệ, một tổ chức môi giới tài chính, tổ chức tài chính trung gian.
- Thông qua hệ thống thanh toán của ngân hàng nhà nước, công việc thanh toán bù trừ được tiến hành và cuối ngày chỉ cần thanh toán khoản chênh lệch giữa toàn bộ khoản tiền gửi và rút ra trên tài khoản của ngân hàng thương mại mở tại hệ thống thanh toán. Điều này mở ra khả năng hạ thấp mức dự trữ NHTM, tăng tốc độ thanh tóan, đẩy mạnh các hoạt động giao dịch.
- Sự “tạo ra tiền ngân hàng ” của tiền gửi là sự mở rộng nhiều lần số tiền gửi và được thực hiện bởi hệ thống các ngân hàng thương mại.
+ NHTW quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc tuỳ theo lọai tiền gửi vào quy mô để đảm bảo khả năng chi trả thường xuyên của NHTM.
+ Tiền dự trữ được gửi tại ngân hàng dưới dạng tiền mặt, một phần gửi vào tài khoản của mình NHTW.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc              rb =      Rb/D                         
 Trong đó:
            Rb :  Dự trữ tiền bắt buộc
D : Tiền gửi
+ Một khoản tiền gửi mới đưa vào hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra khoản dự trữ mới DR và cho phép tạo ra một lượng tối đa khoản cho vay mới. Khoản vay mới trở lại hệ thống NH trở thành khoản tiền gửi mới ΔD:
                 ΔD =     1/rbΔDR
           Trong đó: 1/rb là hệ số nhân tiền tệ                   
         Đó là cách thức mà các ngân hàng thương mại tạo ra tiền.
3. Xác định mức cung tiền (MS)
- Mức cung tiền là tổng số tiền có khả năng thanh toán, bao gồm tiền mặt đang lưu hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại.
- Mức cung tiền > tiền cơ sở do hoạt động tạo ra tiền của NHTM. Mức cung tiền được quyết định bởi quy mô của luợng tiền cơ sở và khả năng tạo ra tiền của các ngân hàng nhờ số nhân tiền tệ.        
- Trên góc độ tổng thể của nền kinh tế:
                                                                      MS = U + D
Gọi S là tỷ lệ giữa tiền mặt trong lưu thông so với tiền gửi và ra là tỷ lệ dự trữ thực tế:
Số nhân tiền tệ mM sẽ là:
Nhận xét :
-  Tỷ lệ dự trữ thực tế càng nhỏ số nhân tiền tệ càng lớn. Tỷ lệ dự trữ thực tế phụ thuộc các nhân tố:
      + Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHTW quy định.
      + Tính không ổn định của nguồn tiền mặt vào, ra của ngân hàng đã bắt buộc các ngân hàng thương mại muốn dự trữ tiền mặt nhiều hơn.
      + Sự thiệt hại do trả lãi suất nếu phải vay tiền khi thiếu hụt dự trữ.
- Tỷ lệ gửi tiền mặt so với tiền gửi càng nhỏ, số nhân tiền tệ càng lớn. Tỷ lệ này phụ thuộc:
+ Thói quen thanh toán của xã hội.
+ Tốc độ tăng tiêu dùng.
+ Khả năng sẵn sàng đáp ứng tiền mặt của ngân hàng thương mại.
- Mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến trạng thái hoạt động của nền kinh tế:

M.V = D.Q => M =   (PxQ)/V   trong đó:

M : Mức cung tiền theo nghĩa rộng (chẳng hạn M2 )
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: Mức giá trung bình
Q: Sản lượng thực tế, và do đó P.Q = GNPn
- Mức cung tiền có tác động trực tiếp đến lãi suất thị trường tiền tệ và qua lãi suất tác động đến tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu. Do đó việc kiểm soát mức cung tiền được coi là chính sách tiền tệ quan trọng, đặc biệt trong quản lý vĩ mô. Muốn kiểm soát mức cung tiền phải có khả năng tác động vào lượng tiền mạnh và số nhân tiền tệ ( vai trò của NHTW).

4. Ngân hàng Trung ương và vai trò kiểm soát tiền tệ của nó
a. Chức năng:
- Ngân hàng của các ngân hàng thương mại.
- Ngân hàng của Chính phủ.
- Kiểm soát mức cung tiền để thực hiện chính sách tiền tệ.
- Hỗ trợ giám sát và điều tiết hoạt động của các thị trường tài chính.
b. Thực thi chính sách tiền tệ:
NHTW điều chỉnh mức cung tiền, các tỷ lệ lãi suất và có thể kiểm soát có lựa chọn một số khoản tín dụng bằng nhiều công cụ khác nhau nhằm tác động vào lượng tiền mạnh và số nhân tiền tệ. Các công cụ quản lý tiền tệ thường dùng là:
- Hoạt động thị trường mở: Thị trường tiền tệ của Ngân hàng Trung ương được sử dụng để mua bán trái phiếu kho bạc nhà nước  để tăng mức cung tiền và ngược lại.
- Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
+ Tỷ lệ dự trữ thấp, số nhân tiền tệ sẽ lớn là điều kiện thuận lợi để mở rộng tín dụng, tăng nhanh mức cung tiền. Công cụ này có hiệu quả cao, tác động nhanh đến hoạt động cho vay nhưng cũng gặp khó khăn cho hoạt động thị trường tài chính.
+ Lãi suất chiết khấu: lãi suất quy định của NHTƯ cho các ngân hàng thương mại vay. Lãi suất thấp sẽ khuyến khích các ngân hàng thương mại vay tăng dự trữ và mở rộng cho vay  ->  mức cung tiền sẽ tăng.
-  Công cụ khác: Kiểm soát tín dụng có lựa chọn, quy định trực tiếp lãi suất.
Kết quả kiểm soát mức cung tiền của NHTW bị giới hạn bởi khả năng kiểm soát tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi của công chúng, do tỷ lệ này (s) phụ thuộc vào thói quen thanh toán xã hội và khả năng hoạt động của các tổ chức tài chính.

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Đường LM


___________________________________________________________________
1. Định nghĩa

Đường LM là biểu thị những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân bằng của thị trường tiền tệ. Nói cách khác LM mô tả sự tác động của sản lượng đối với lãi suất cân bằng (cho biết lãi suất cân bằng thay đổi như thế nào khi sản lượng thay đổi trong điều kiện cố định các yếu tố khác)
2. Thành lập mô hình
Vì giả thiết rằng lượng cầu tiền L luôn bằng lượng cung tiền M, nghĩa là không đổi. Nên hễ thu nhập Y tăng, thì lượng cầu tiền vì mục đích giao dịch sẽ tăng lên. Lượng cầu tiền dự trữ vì mục đích đầu cơ vì thế sẽ giảm đi; và để đảm bảo điều đó, lãi suất thực tế r cần phải tăng lên. Tóm lại, khi xét từ góc độ thị trường tiền tệ cân bằng, khi thu nhập tăng thì lãi suất thực tế cũng sẽ tăng; và ngược lại.

Như vậy, đường LM biểu diễn một tập hợp các điểm cân bằng trên thị trường tiền tệ sẽ là đuờng dốc lên phía phải trên một đồ thị hai chiều với trục hoành là các mức thu nhập Y, còn trục tung là các mức lãi suất thực r (xem Hình 1).
    Phương trình đường LM : M / P = L ( Y , r )
M : cung tiền
M / P : cung tiền thực tế
L ( Y , r ) : hàm cầu tiền phụ thuộc vào thu nhập và lãi suất
3. Vận dụng mô hình
Bây giờ, giả dụ cơ quan quản lý tiền tệ quyết định tăng lượng cung tiền M. Để cho thị trường tiền tệ luôn cân bằng, lượng cầu tiền L cũng sẽ tăng lên tương ứng. Với cùng một mức lãi suất thực nên lượng cầu tiền dự trữ để đầu cơ sẽ không đổi. Vì thế, lượng cung tiền L tăng thực chất là do lượng cầu tiền vì mục đích giao dịch tăng. Muốn thế, thu nhập Y phải tăng. Nói chính sách nới lỏng tiền tệ kích thích kinh tế tăng trưởng chính là dựa vào cơ chế nói trên.
Trên đồ thị, đường LM sẽ dịch song song sang phía phải khi lượng cung tiền M tăng.
4. Các yếu tố làm dịch chuyển LM
- Sự dịch chuyển mức cầu tiền do sự tăng lên mức cung tiền danh nghĩa, hoặc một sự giảm giá.
Ví dụ khi mức tiền cung ứng thực tế tăng lên, (hình dưới đây).
- Một sự tăng lên cung tiền danh nghĩa tạo ra sự tăng lên trong cung tiền thực tế đến M1/P.
- Tại mức lãi suất ban đầu, có một sự dư cung hay thặng dư tiền thực tế trong lưu thông, so với mức mà các hộ gia đình và doanh nghiệp muốn nắm giữ.
- Các hộ gia đình muốn xoá bỏ sự dư cung tiền này, bằng cách gửi tiền vào ngân hàng, dùng tiền để mua các phương tiện tài chính khác,v.v..
- Những hành động này của hộ gia đình và doanh nghiệp dẫn đến giảm mức lãi suất (cần thiết để khuyến khích mọi người bán trái phiếu, v.v..)
- Giảm mức lãi suất dẫn đến một cân bằng mới thị trường tiền tệ, tại mức lãi suất thấp hơn nhưng GDP thực tế vẫn giữ nguyên.
- Trong phần (b) của hình, chúng ta thấy điều này là sự dịch chuyển xuống của đường LM, đề biểu thị sự kết hợp r, Y theo sự thay đổi trong cung tiền.
5. Độ dốc của đường LM
- Giá trị của h (độ nhạy cảm của cầu tiền với lãi suất) càng lớn thì đường LM càng thoải (và ngược lại). Giá trị h lớn thể hiện độ co giãn của cầu tiền đối với lãi suất cao hay nói cách khác khi lãi suất thay đổi ít nhưng làm cho cầu tiền thay đổi nhiều ( và ngược lại, lãi suất thay đổi nhiều nhưng cầu tiền thay đổi ít
- Giá trị của k (độ nhạy cảm của cầu tiền đối với thu nhập) càng nhỏ thì đường LM càng thoải ( và ngược lại). Gía trị k nhỏ thể hiện độ co giãn của cầu tiền đối với thu nhập nhỏ hay nói cách khác khi thu nhập thay đổi nhiều nhưng làm cầu tiền thay đổi không đáng kể ( và ngược lại khi thu nhập thay đổi ít nhưng làm cầu tiền thay đổi nhiều)
6. Các trường hợp đường LM đặc biệt

  - Trường hợp thứ nhất tương ứng với tình huống cá nhân thà giữ tiền mặt hoàn toàn, đó là khi lãi suất quá thấp và các tài sản như trái phiếu chỉ đem lại lợi tức không đáng kể.
  - Trường hợp thứ hai tương ứng với tình huống cá nhân đem hết số tiền dự trữ để đầu cơ chuyển thành các tài sản có lợi tức, thành ra số tiền còn nắm giữ vì mục đích đầu cơ bằng không.


nguồn Mankiw, Gregory N. (2002), Macroeconomics, Fifth Edition, Worth Publisher.

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Đường IS

____________________________________________________________________________
1. Định nghĩa

Tập hợp những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân bằng của thị trường hàng hóa sẽ được một đường gọi là đường IS. Đường IS mô tả sự tác động của lãi suất đối với sản lượng cân bằng (sản lượng cân bằng thay đổi như thế nào khi lãi suất thay đổi trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi)
2. Thành lập mô hình
 -  Lãi suất r tăng, khiến cho đầu tư I giảm đi.
 -  Tiết kiệm S luôn bằng đầu tư I, nên khi đầu tư giảm thì thu nhập Y phải giảm để cho tiết kiệm giảm xuống.
-  Biểu diễn quan hệ nghịch đảo giữa lãi suất r và thu nhập Y để đảm bảo cần bằng thị trường hàng hóa vĩ mô này trên đồ thị hai chiều với trục hoành là các mức thu nhập Y, còn trục tung là các mức lãi suất r, ta sẽ có một đường IS là tập hợp của các mức tiết kiệm và thu nhập bằng nhau làm cân bằng thị trường hàng hóa vĩ mô. Đường này dốc xuống phía phải.
-  Phương trình đường IS: Y = C ( Y - T ) + I ( r ) + G
3. Vận dụng mô hình
Vì nguyên nhân nào đó (chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế dẫn tới chi tiêu ròng của chính phủ tăng lên (xem Chính sách tài chính), lãi suất r không đổi mà đầu tư I lại tăng lên. Tiết kiệm S phải tăng theo đầu tư. Và thu nhập Y phải tăng lên để cho tiết kiệm tăng. Khi r không đổi mà Y tăng, đường IS dịch song song sang phía phải của đồ thị.
Ngược lại, khi r không đổi mà Y giảm, đường IS dịch song song sang phía trái.
4. Các yếu tố làm dịch chuyển IS
-  G (chi tiêu chính phủ), T (thuế): Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa làm tăng G (giảm T) sẽ làm IS dịch chuyển sang phải.
 - Cú sốc ngoại sinh : Cú sốc ngoại sinh của người tiêu dùng ,nhà đầu tư làm tăng I (đầu tư),C (chi tiêu cá nhân) ngoại sinh sẽ làm dịch chuyển IS phải.
5. Độ dốc của đường IS
- Đường IS có độ dốc âm: bởi vì r(lãi suất), I(đầu tư) có quan hệ ngược chiều với nhau. Độ dốc của IS phụ thuộc vào độ nhạy cảm của I(đầu tư) phản ánh qua lãi suất, giá trị của số nhân chi tiêu.
 - Sự nhạy cảm của đầu tư với lãi suất:
      Đầu tư rất nhạy cảm:một sự thay đổi nhỏ của lãi suất cũng làm cho đầu tư và chi tiêu thay đổi một lượng lớn => thu nhập thay đổi nhiều, đường IS sẽ thoải.
        Đầu tư ít nhạy cảm: ngược lại.
-  Giá trị của số nhân chi tiêu(m):
       + Nếu số nhân chi tiêu lớn thì thu nhập cân bằng tăng nhiều. Do vậy đường IS sẽ thoải.
      +  Nếu số nhân chi tiêu nhỏ thì ngược lại.
6. Các trường hợp đường IS đặc biệt
 - Đường IS thẳng đứng:
Trong mô hình chuẩn trình bày ở trên, chúng ta giả thiết là đầu tư I là hàm số giảm của lãi suất r. Tuy nhiên, nếu nới lỏng giả thiết này, và cho rằng đầu tư hoàn toàn không có phản ứng gì khi lãi suất thay đổi (dI/dr=0). Khi ấy tiết kiệm S cũng không hề thay đổi. Thu nhập Y cũng không thay đổi. Tóm lại, dù lãi suất thay đổi, nhưng thu nhập không đổi. Đường IS vì thế thẳng đứng. 
 - Đường IS nằm ngang:
Giả dụ, bây giờ đầu tư I lại phản ứng mạnh vô hạn với những thay đổi của lãi suất r. Lúc này đường IS sẽ nằm ngang.


(nguồn Mankiw, Gregory N. (2002), Macroeconomics, Fifth edition, Worth Publisher)

Download toàn bộ bài viết tại đây