Showing posts with label Kinh tế vĩ mô. Show all posts
Showing posts with label Kinh tế vĩ mô. Show all posts

Kinh tế vĩ mô - Chính sách tài khóa và tiền tệ trong mô hình IS-LM-BP

__________________________________________________________________
1. Chính sách tài khóa và tiền tệ dưới hệ thống tỷ giá cố định.
1.1. Chính sách tài khóa
Giả sử chính phủ tăng chi tiêu G, đường IS dịch chuyển sang phải, sản lượng tăng từ Y lên Y’ và lãi suất trong nước tăng làm cho i > if, luồng vốn di chuyển vào trong nước tăng lên làm tăng cung ngoại tệ, để giữ tỷ giá không đổi (không giảm) NHTW sẽ phải mua vào ngoại tệ bằng cách tăng cung tiền VND. Khi cung tiền M/P tăng, đường LM dịch chuyển sang phải cho đến khi i = if (i giảm xuống). Kết quả là sản lượng tăng từ Y’ lên Y’’ tổng hợp của hai lần tăng sản lượng là sản lượng tăng rất nhiều, như vậy chính sách tài khóa rất hiệu quả. Tác động của chính sách này có thể biểu diễn qua hình vẽ dưới đây.
Hình: Chính sách tài khóa hiệu quả dưới hệ thống tỷ giá hối đoái cố định

1.2. Chính sách tiền tệ.
Giả sử NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, đường LM dịch chuyển sang phải làm lãi suất trong nước giảm xuống, khi i < if vốn di chuyển ra nước ngoài, cầu ngoại tệ tăng, NHTW phải bán ngoại tệ ra để giữ tỷ giá làm cung nội tệ (M/P) giảm xuống. Khi cung tiền M/P giảm thì đường LM lại dịch ngược sang trái (trở lại vị trí ban đầu). Kết quả là không có ảnh hưởng đến sản lượng hay chính sách tiền tệ không hiệu quả.
Như vậy, chúng ta không thể có một chính sách tiền tệ độc lập dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định.

Hình: Chính sách tiền tệ không hiệu quả dưới hệ thống tỷ giá hối đoái cố định

2. Chính sách tài khóa và tiền tệ dưới hệ thống tỷ giá thả nổi.
2.1. Chính sách tài khóa
Giả sử chính phủ tăng chi tiêu G, đường IS dịch chuyển sang phải, sản lượng tăng và lãi suất trong nước tăng làm cho i > if, luồng vốn di chuyển vào trong nước tăng lên làm tăng cung ngoại tệ. Tuy nhiên, đối với hệ thống tỷ giá thả nổi, NHTW sẽ không phải can thiệp  vào thị trường ngoại tệ nên cung tiền VND không đổi. Khi cung ngoại tệ tăng thì tỷ giá sẽ giảm dẫn đến xuất khẩu ròng NX giảm, đường IS lại dịch ngược sang trái, cả sản lượng và lãi suất đều giảm và trở về vị trí ban đầu (vì số nhân của G và xuất khẩu X như nhau). Kết quả sau cùng là sản lượng không đổi. Như vậy chính sách tài khóa không hiệu quả.
Nếu khi chi tiêu chính phủ G tăng mà dẫn đến xuất khẩu ròng NX giảm gọi là sự tháo lui quốc tế (crowding out).
Hình: Chính sách tài khóa không hiệu quả dưới hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi
2.2. Chính sách tiền tệ.
Giả sử NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, đường LM dịch chuyển sang phải làm lãi suất trong nước giảm xuống và sản lượng tăng, khi i < if vốn di chuyển ra nước ngoài, cầu ngoại tệ tăng nên tỷ giá tăng, nhưng trong hệ thống tỷ giá thả nổi NHTW không phải can thiệp vào thị trường ngoại tệ nên cung nội tệ (M/P) không thay đổi. Khi cầu ngoại tệ tăng thì tỷ giá sẽ tăng dẫn đến xuất khẩu ròng NX tăng, đường IS dịch sang phải, sản lượng và lãi suất lại tăng. Kết quả sau cùng là sản lượng tăng mạnh. Như vậy chính sách tiền tệ rất hiệu quả.
 Hình:  Chính sách tiền tệ hiệu quả dưới hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi

Lưu ý: Những mô hình trên đều giả định rằng mức giá không thay đổi.

Tóm tắt kết quả các chính sách (mô hình Mundell - Flemming)
Chính sách
(mở rộng)
Tỷ giá thả nổi
Tỷ giá cố định
Y
NER
NX
Y
NER
NX
Tài khóa
0
-
-
+
0
0
Tiền tệ
+
+
+
0
0
0

Ghi chú: dấu (+) là tăng, dấu (-) là giảm và số (0) là không có tác động.

3. Đẳng thức tiết kiệm và đầu tư
Tại vị trí cân bằng của nền kinh tế, chúng ta có: Y = C + I + G + X - M
Yd = Y – TN = (C + I + G + X - M) - TN
Và chúng ta có: Yd = C + S, thay vào công thức trên chúng ta có:
C + S = (C + I + G + X - M) - TN óI = S + (M - X) + (T- G)
Khi cán cân thanh toán cân bằng thì:
BP = 0 tức BP = NX + CF = 0 ó  CF = - NX = -(X - M) = M – X
Thay vào công thức trên ta có:
I = S + CF + (TN  – G) = SP + CF + SG = SP + SF + S¬G
Công thức này nói lên rằng tổng cầu đầu tư trong nước bằng (tài trợ bởi) tổng tiết kiệm của khu vực tư nhân, khu vực chính phủ và dòng vốn đầu tư từ nước ngoài (CF).

Download toàn bô bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái- mô hình IS- LM - BP

___________________________________________________________________
1. Cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái
Trong hệ thống tỷ giá cố định, để giữ cho tỷ giá cố định thì buộc NHTW phải can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua vào hay bán ra dự trữ ngoại hối.
- Nếu cán cân thanh toán BP = CA + KA > 0 thì có một luồng tiền ngoại tệ ròng chảy vào Việt Nam, làm cung ngoại tệ tăng (tỷ giá sẽ giảm xuống) nhưng để giữ tỷ giá cố định NHTW mua vào ngoại tệ vào bằng cách tăng cung VND (tăng M/P).
- Nếu cán cân thanh toán BP < 0 thì có một luồng ngoại tệ ròng chảy ra khỏi Việt Nam, làm cầu về ngoại tệ tăng (tỷ giá sẽ tăng) nhưng để giữ tỷ giá cố định buộc NHTW bán ra dự trữ  ngoại tệ (thu nội tệ vào) dẫn đến cung tiền nội tệ giảm (VND).

 Sự can thiệp vào tỷ giá hối đoái
- Đối với hệ thống tỷ giá cố định: tỷ giá danh nghĩa NER được quyết định bởi nhà nước (NHTW) và NHTW giữ tỷ giá cố định bằng cách bán ra hay mua vào ngoại tệ, điều này sẽ làm thay đổi mức cung tiền nội tệ (VND).
- Đối với hệ thống tỷ giá thả nổi: tỷ giá danh nghĩa NER hình thành bởi quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối và NHTW không tham gia mua bán ngoại tệ nên mức cung tiền nội tệ không đổi.

2. Mô hình IS – LM – BP

Mô hình 3 đường Is, Lm và BP
BP = CA + KA = NX + CF
Khi cán cân thanh toán quốc tế cân bằng, ta có:
BP = 0 ó NX + CF = 0
Điều này cũng có thể nói rằng thâm hụt cán cân vãng lai sẽ được tài trợ bởi thặng dư của cán cân vốn hay ngược lại thâm hụt cán cân vốn sẽ được tài trợ bởi thặng dư của cán cân vãng lai.
Giả định rằng không có kiểm soát vốn tức là vốn tự do di chuyển giữa các nước, khi đó về dài hạn BP nằm ngang.

Gọi i và if là lãi suất tương ứng của vốn trong và ngòai nước (quốc tế), ta có:
            Nếu i > if (lãi suất trong nước > lãi suất quốc tế) vốn sẽ di chuyển vào trong nước, khi đó BP > 0. Nếu i < if thì vốn chạy ra nước ngoài (vốn đi tìm kiếm lợi tức cao hơn), khi đó BP < 0.          Nếu i = if thì sự di chuyển vốn chấm dứt.

* Trong chế độ tỷ giá cố định
- Nếu BP > 0 (khi i > if) thì vốn di chuyển vào trong nước, cung ngoại tệ tăng, NHTW mua ngoại tệ vào dự trữ bằng cách tăng cung tiền VND nhằm giữ  tỷ giá không đổi.
- Nếu BP < 0 (khi i < if) thì vốn di chuyển ra nước ngòai, cầu ngoại tệ tăng, NHTW phải bán ra ngoại tệ (rút bớt VND ra khỏi lưu thông tức giảm cung VND) để giữ tỷ giá không tăng.
* Trong chế độ tỷ giá thả nổi (NHTW không can thiệp vào tỷ giá, mức cung nội tệ VND không đổi).
- Nếu BP > 0 (khi i > if) thì vốn chảy vào trong nước, tăng cung ngoại tệ dẫn đến tỷ giá giảm (hay VND tăng giá). Khi tỷ giá giảm thì xuất khẩu ròng NX sẽ giảm.
- Nếu BP < 0 (khi i < if) thì vốn di chuyển ra nước ngoài, cầu ngoại tệ tăng dẫn đến tỷ giá tăng. Khi tỷ giá tăng thì xuất khẩu ròng NX sẽ tăng.
- Nếu BP = 0 thì i = if thì sự di chuyển vốn chấm dứt.
Ta nói nền kinh tế cân bằng bên ngoài (EB - external balance) khi BP = 0 và nền kinh tế đạt cân bằng bên trong (IB-internal balance) khi nó đạt đến sản lượng tiềm năng.
 Hình: Tình trạng của nền kinh tế trong nền kinh tế mở với luồng vốn tự do di chuyển

Trong sơ đồ trên, hai đường FE (đường toàn dụng nhân công) và đường BP=0 chia ra bốn miền. Góc trên bên trái phản ánh trình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng (đình trệ) và thặng dư trong cán cân thanh toán; góc dưới bên trái phản ánh sự đình trệ và thâm hụt; góc phải bên trên phản ánh trình trạng sản xuất trên mức tiềm năng và thâm hụt cán cân thanh toán.

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Cán cân thanh toán

___________________________________________________________________
1. Định nghĩa
Cán cân thanh toán (BP) là bảng ghi chép thống kê tất cả các giao dịch kinh tế giữa một quốc gia đối với các quốc gia còn lại của thế giới trong một giai đoạn nhất định.

Hạch toán cán cân thanh toán dựa trên cơ sở hệ thống bút toán kép. Do vậy, theo định nghĩa, tổng thể cán cân thanh toán cần phải cân bằng về mặt số học. Tuy nhiên mỗi tài khoản đơn lẻ có thể không cân bằng, làm nảy sinh các khái niệm như thâm hụt hay thặng dư.

Số liêu bảng cán cân thanh toán cho biết tình hình thương mại và đầu tư quốc tế của một quốc gia. Những con số thống kê này là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Ví dụ số liệu thâm hụt thương mại (tài khoản vãng lai) có thể được xem là tốt, xấu, quá thấp hoặc quá cao đều không sai. Ví dụ, khi cán cân thương mại bị thâm hụt nhưng nếu nhập khẩu hàng xa xỉ có thể không có lợi cho nền kinh tế, trong khi đó vay nợ để tài trợ cho nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị có thể là dấu hiệu của việc tăng đầu tư trong một nền kinh tế đang phát triển.

Trên cán cân thanh toán bao gồm các giao dịch nợ và các giao dịch có.
Giao dịch có (+) là giao dịch dẫn đến kết quả là nhận ngoại tệ từ nước ngoài. Trong khi đó, giao dịch nợ (-) là giao dịch dẫn đến kết quả là trả ngoại tệ cho nước ngoài.

- Các giao dịch có (thu ngoại tệ) bao gồm:
+ Xuất khẩu hàng hóa.
+ Xuất khẩu dịch vụ (bảo hiểm, du lịch, vận tải biển…)
+ Thu nhập nhận được từ đầu tư nước ngoài
+ Quà nhận được từ các chủ thể nước ngòai.
+ Viện trợ của chính phủ nước ngoài.
+ Đầu tư (vay) vào trong nước của người nước ngoài.

- Các giao dịch nợ (chi trả ngoại tệ)
            + Nhập khẩu hàng hóa
            + Nhập khẩu dịch vụ
            + Thu nhập trả cho người nước ngoài
            + Quà tặng cho người nước ngoài
            + Viện trợ cho chính phủ nước ngoài
            + Đầu tư  (cho vay) ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước.

2. Cấu trúc của cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán bao gồm 3 bộ phận hợp thành: tài khỏan vãng lai (CA), tài khỏan vốn (KA) và thay đổi trong dự trữ chính thức (R). ngòai ra còn có bộ phận sai lệch thống kê (không đáng kể), trong nghiên cứu này chúng ta có thể  bỏ qua.

- Tài khoản vãng lãi (CA – current
+ Thương mại hàng hóa
+ Các giao dịch dịch vụ (du lịch, bảo hiểm, vận tải biển, giáo dục)
+ Thu nhập từ đầu tư (lợi nhuận, cổ tức, lãi cho vay)
+ Chuyển nhượng một chiều (quà tặng của tư nhân và chính phủ)

- Tài khỏan vốn (KA - capital account), bao gồm:
+ Đầu tư trực tiếp và các luồng vốn dài hạn (gián tiếp) khác
Thay đổi về lượng tài sản dài hạn được nắm giữ, bao gồm hai loại: tài sản vật chất (ví dụ nhà máy) và tài sản tài chính (ví dụ như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân hàng). Giao dịch có (luồng vốn vào) phát sinh khi có sự tăng thuần về nắm giữ tài sản nội địa bởi các chủ thể nước ngoài. Giao dịch nợ thể hiện sự tăng thuần về nắm giữ tài sản nước ngòai của các chủ thể trong nước.
+ Luồng vốn ngắn hạn phi chính thức
Các giao dịch được thể hiện bởi khu vực tư nhân với các tài sản ngắn hạn (thời gian đến hạn dưới một năm). Tương tự như trên, tăng lượng tài sản trong nước nắm giữ bởi chủ thể nước ngoài là giao dịch có, giảm lượng tài sản trong nước nắm giữ bởi chủ thể nước ngoài là giao dịch nợ.

- Thay đổi trong dự trữ chính thức (R)
Tài khoản này đo lường sự thay đổi lượng tài sản tài chính (dự trữ chính thức) của ngân hàng trung ương. Nếu ngân hàng trung ương nước ngoài mua tài sản tại nước chủ nhà, đây là giao dịch có. Nếu ngân hàng trung ương nước chủ nhà (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) mua tài sản dự trữ quốc tế hoặc tài sản của nước khác (ví dụ tài khỏan tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài), giao dịch này là giao dịch nợ.

Bởi vì mỗi giao dịch nợ được cân bằng bởi một giao dịch có ở một nơi khác trong bản cán cân thanh toán nên cộng tổng số dư của các tài khoản bằng không hay tổng thu bằng tổng chi, do vậy:
CA + KA + R = 0
Gọi BP = CA + KA
Nếu BP > 0 thì R < 0 và nếu BP < 0 thì R >0.

3. Mất cân bằng bên ngoài và xác định thu nhập
Mất cân bằng bên ngoài (đối ngoại) xuất hiện khi cán cân của tài khỏan vãng lai không bằng không và không mong muốn. Có một khoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng.

Sản xuất (GDP) = Y
Tiêu dùng (nội địa) = C + I + G
Theo chương ba, chúng ta có: Y = C + I + G + X - M = C + I + G + CA
Lưu ý: ta coi tài khoản vãng lai CA chủ yếu là thương mại hay XNK, các khoản khác bỏ qua do chiếm tỷ lệ không đáng kể trong CA. từ đó có thể rút ra:
CA = X - M = Y – (C + I + G)
Do đó, tài khoản vãng lai (CA) là sự chênh lệch giữa sản xuất (Y) và tiêu dùng (C+I+G).

Nếu Y > C + I + G thì CA > 0 (X > M), cán cân vãng lai thặng dư (CA > 0) có nghĩa là sản xuất vượt mức tiêu dùng.

Nếu Y<C+I+G thì CA < 0 (X<M), cán cân vãng lai thâm hụt (CA<0) có nghĩa là sản xuất dưới mức chi tiêu.

Quốc gia tiêu dùng quá nhiều nên đi vay nợ từ bên ngoài và hoàn trả khoản nợ này bằng cách tiêu dùng ít đi trong tương lai. Tuy nhiên tình trạng này không phải là không mong muốn hay không tốt. Chẳng hạn hiện tại chúng ta vay nợ nước ngoài để đầu tư (nhập khẩu tư liệu sản xuất) phát triển sản xuất để rồi tăng xuất khẩu và trả nợ trong tương lai.

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô- Thị trường ngoại hối

_________________________________________________________________
 
1. Khái niệm về thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động mua bán ngoại hối. Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin liên lạc thì ngày nay khái niệm thị trường ngoại hối có xu hướng nghiêng về hoạt động giao dịch hơn là địa điểm. Những hoạt động giao dịch thông qua hệ thống thông tin mà không có địa điểm xác định gọi là thị trường phi tập trung (OTC). Thông qua tác động qua lại của cung cầu trên thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái được xác định.

Tỷ giá hối đoái (viết tắt là e)
Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền này được thể hiện qua đồng tiền kia hay tỷ lệ so sánh giữa hai đồng tiền của hai quốc gia. Ví dụ: tại New York ngày 01/01/2004: 1USD = 108JPY (Yen Nhật Bản).
Đối với những quốc gia có đồng tiền với giá trị thấp như Việt Nam, tỷ giá thường được định nghĩa là số đồng bản tệ (nội tệ) cần thiết để mua một đồng ngoại tệ. Ví dụ để mua 1USD ta cần phải có 15.700VND.

Liên quan đến tỷ giá hối đoái, có các hiện tượng như giảm giá, lên giá, phá giá và nâng giá.
- Giảm giá xảy ra khi giá của một loại tiền giảm đi so với một loại tiền khác. Giảm giá là kết quả của quan hệ cung cầu trên thị trường ngọai hối, khi cung vượt cầu thì tỷ giá sẽ giảm.
- Lên giá xảy ra khi giá của một loại tiền tăng so với một loại tiền tệ khác. Lên giá là kết quả của quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối, khi cầu vượt cung thì tỷ giá sẽ tăng hay lên giá.
Khi so sánh hai đồng tiền, nếu đồng tiền này giảm giá thì đồng tiền kia lên giá. Ngược lại nếu đồng tiền này lên giá thì đồng tiền kia giảm giá. Hiện tượng lên giá hay giảm giá là do thị trường hay quan hệ cung cầu quyết định.
- Phá giá (devaluation) là làm cho một đồng tiền giảm giá trong hệ thống tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi có kiểm soát. Trong trường hợp tỷ giá cố định, giá trị của một loại tiền tệ có thể được cố định theo giá của vàng hay một loại đồng ngoại tệ nào đó (thường là các ngoại tệ mạnh như USD, EUR, JPY…). Ví dụ: đô la Mỹ trước đây được đảm bảo bằng vàng, có một thời điểm người ta qui định 1USD=0,6685 gram vàng. Sau đó chính phủ Mỹ quyết định giảm hàm lượng vàng của 1USD xuống còn 0,6654 gram vàng. Như vậy chính phủ Mỹ đã phá giá đồng đô la Mỹ.
- Nâng giá (revaluation) là làm cho một đồng tiền lên giá trong hệ thống tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi có kiểm soát. Như vậy sự nâng giá và phá giá chỉ xảy ra đối với hệ thống tỷ giá cố
định hay tỷ giá thả nổi có kiểm soát, sự phá giá hay nâng giá là do chủ quan, do sự can thiệp của chính phủ. Ngược lại, sự lên giá hay giảm giá không xảy ra với hệ thống tỷ giá cố định.

Tính chuyển đổi của tiền tệ
Tính chuyển đổi (convertibility) là mức độ để dễ dàng chuyển đổi một đồng tiền này sang một đồng tiền khác. Có thể phân biệt mức độ chuyển đổi: chuyển đổi hoàn toàn; chuyển đổi không hoàn toàn và không thể chuyển đổi. Một đồng tiền có khả năng chuyển đổi hoàn toàn khi dễ dàng chuyển đổi ra bất kỳ một lọai đồng tiền khác bởi bất kỳ ai, với bất kỳ số lượng nào và ở bất cứ nơi đâu. Ví dụ: USD, GBP, EUR, JPY. Chuyển đổi không hoàn toàn là khả năng chuyển đổi của một đồng tiền với những điều kiện nhất định, thường ở phạm vi hạn chế có tính khu vực. Có nhiều lọai tiền khi ra khỏi lãnh thổ một nước thì không có khả năng chuyển đổi, đây là những đồng tiền yếu và không ổn định.

2. Xác định tỷ giá hối đoái
Các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào hệ thống tỷ giá hối đoái được áp dụng đối với một đồng tiền. Có ba hệ thống tỷ giá là hệ thống tỷ giá cố định, tỷ giá linh hoạt (thả nổi) và hệ thống thả nổi có quản lý hay kiểm soát.
- Đối với tỷ giá hối đoái cố định: ngân hàng trung ương (NHTW) là cơ quan xác định tỷ giá hối đoái. Tỷ giá giao dịch do NHTW quyết định, buộc các đơn vị kinh tế phải tuân theo.
- Đối với tỷ giá hối đoái linh hoạt: tỷ giá hối đoái được xác định bởi cung và cầu đối với một loại tiền hay nói cách khác tỷ giá do thị trường quyết định.
- Đối với tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý: tỷ giá hối đoái cơ bản được xác định bởi cung và cầu trên thị trường nhưng nhà nước có thể can thiệp khi cần thiết để điều chỉnh theo định hướng của mình.

Trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi hay thả nổi có quản lý, các nhân tố chính tác động đến tỷ giá hối đoái gồm (giả sử xét tỷ giá giữa VND và USD):
- Cung về USD
+ Việt nam xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài.
+ Người nước ngoài mua tài sản tại Việt Nam (luồng vốn đầu tư vào Việt Nam)
- Cầu về USD
+ Việt Nam nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài.
+ Người Việt Nam mua tài sản ở nước ngoài (luồng vốn đầu tư ra khỏi Việt Nam)

3. Tỷ giá hối đoái thực (real exchange rate – RER)

Trong đó:
- NER là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, là một số đơn vị đồng tiền một quốc gia cần thiết để mua một đơn vị đồng tiền của một quốc gia khác. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa chính là tỷ giá trên thị trường hối đoái.
- Pf là chỉ số ở nước ngòai (nước có đồng tiền so sánh)
- P là chỉ số giá trong nước
Nếu RER tăng, hàng ngoại trở nên mắc hơn tương đối so với hàng nội hay nói cách khác hàng hóa nội địa sẽ rẻ hơn tương đối so với hàng ngoại. Do vậy, hàng nội (hàng Việt Nam) có khả năng cạnh tranh cao hơn vả sẽ xuất khẩu nhiều hàng hóa hơn.
Nếu P = Pf thì RER = NER, tuy nhiên thực tế trong thập niên 1990 khi so sánh chỉ số tăng giá nước ngoài (Ví dụ Mỹ) với Việt Nam, chúng ta thấy chỉ số tăng giá của Việt Nam cao hơn. Nếu NER không thay đổi hay thay đổi ít thì rõ ràng RER của VND so với USD có xu hướng giảm, điều này sẽ không kích thích được xuất khẩu.

4. Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng và các luồng vốn
Hai nhân tố chính ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng: sản lượng trong nước (Y), và tỷ giá hối đoái thực (RER). Nói cách khác NX là một hàm số theo các biến Y và RER.

- Nếu sản lượng trong nước Y tăng, tức thu nhập của dân cư trong nước tăng lên thì người dân sẽ mua nhiều hàng nhập khẩu hơn nên xuất khẩu ròng giảm.

- Nếu tỷ giá hối đoái thực RER tăng thì xuất khẩu ròng tăng ( M giảm, X tăng): vì hàng nhập khẩu trở nên mắc hơn nên nhập khẩu giảm (Việt Nam nhập khẩu ít hơn) và hàng xuất khẩu của Việt Nam ở các nước khác trở nên rẻ hơn nên chúng ta xuất khẩu được nhiều hơn (hàng hóa Việt Nam có tính cạnh tranh cao hơn). Phải lưu ý rằng tỷ giá thực RER được quyết định bởi tỷ giá danh nghĩaNER, chỉ số giá trong nước P và chỉ số giá nước ngoài Pf. Nếu như P giảm tương đối so với Pf, thì tỷ giá hối đoái thực tăng, hàng hóa của Việt Nam trở nên rẻ hơn so với người nước ngoài (hàng nước ngoài trở nên mắc hơn so với hàng Việt Nam). Điều này có nghĩa là nhập khẩu hàng hóa nước ngoài sẽ ít đi, nhưng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sẽ tăng lên. Do đó xuất khẩu ròng NX tăng.

- Nếu RER giảm, thì hàng nước ngoài trở nên rẻ hơn hay hàng Việt Nam mắc hơn, hàng Việt Nam giảm khả năng cạnh tranh so với hàng hóa nước ngoài.

- Tỷ giá danh nghĩa NER: để cho đơn giản, chúng ta giả sử rằng không có lạm phát ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, nên P =1 và Pf = 1. Do vậy, RER=NER hay tỷ giá hối đoái thực tế bằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Khi NER giảm thì RER giảm, VND tăng giá hay mạnh hơn so với ngoại tệ và hàng Việt Nam trở nên mắc hơn so với hàng hóa nước ngoài nên hàng hóa Việt Nam giảm sức cạnh tranh. Ngược lại, khi NER tăng thì RER tăng, tức VND giảm giá hay yếu đi so với ngọai tệ và hàng Việt Nam trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngòai nên hàng hóa Việt Nam tăng sức cạnh tranh. Khi xuất khẩu tăng hoặc nhập khẩu giảm thì xuất khẩu ròng tăng.
Trong điều kiện nền kinh tế mở và không có kiểm soát vốn hay tự do hóa tài chính, các luồng vốn đầu tư quốc tế được tự do di chuyển nhằm tìm kiếm nơi đầu tư có lợi hơn. Các luồng vốn (CF) là giá trị thưong mại ròng về tài sản, hay dòng vốn ròng chảy vào trong nước, tức là tổng dòng vốn vào trong nước trừ đi tổng dòng vốn ra nước ngoài. Nếu giá trị dương CF thể hiện Việt Nam bán tài sản cho các quốc gia khác nhiều hơn lượng tài sản mua về. Cũng cần lưu ý rằng, trái phiếu chính phủ cũng là một tài sản. Như vậy, sự gia tăng về khối lượng nợ chính phủ bán ra nước ngoài được xem như là một luồng vốn dương. Trong khi đó xuất khẩu ròng NX là giá trị thương mại ròng về hàng hóa và dịch vụ, nếu giá trị NX dương thể hiện Việt Nam bán hàng hóa sang các quốc gia khác nhiều hơn số lượng mua về. Tổng NX và CF là tổng dòng tiền ròng chảy vào trong nước (Việt Nam).

Nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến các luồng vốn là lãi suất thực (khả năng sinh lời của đồng vốn) mà nhà đầu tư nhận được. Nếu lãi suất trong nước i > if (lãi suất nước ngoài) thì các nhà đầu tư nước ngòai muốn đầu tư vào Việt Nam, khi đó luồng vốn vào lớn hơn luồng vốn ra, tức CF>0. ngược lại, nếu i < if  thì các nhà đầu tư muốn rút vốn ra khỏi Việt Nam hay đầu tư ra nước ngòai do đó CF<0. lưu ý rằng chúng ta chỉ quan tâm đến lãi suất thực vì vậy các nhân tố về rủi ro hay lạm phát cũng cần phải đề cập đến. Lãi suất danh nghĩa thu được có thể cao nhưng các yếu tố rủi ro hay lạm phát quá lớn có thể làm cho các nhà đầu tư không muốn bỏ vốn đầu tư.

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Đường tổng cung Keynes

___________________________________________________________________

1. Đường tổng cung Keynes
Đường tổng cung Keynes giả định các doanh nghiệp sẽ cung cấp bất kỳ mức sản lượng yêu cầu nào tại mức giá hiện tại. Điều này xảy ra khi có tỷ lệ thất nghiệp cao và các doanh nghiệp có thể thuê bất kỳ số lượng lao động nào mà họ muốn tại mức lương hiện tại.

Trong trường hợp này đường tổng cung là đường nằm ngang tại mức giá ban đầu, có nghĩa là tổng cung hoàn toàn co giãn theo giá.

Đường tổng cung Keynes dựa trên giả thuyết là các thị trường, đặc biệt là thị trường lao động, không phải lúc nào cũng cân bằng và trong nền kinh tế luôn có tình trạnh thất nghiệp.
 Hình: đường tổng cung Keynes
 Hình: thị trường lao động trong tổng cung Keynes

Đường cung về lao động là đường nằm ngang, có độ co giãn hoàn toàn tại mức lương hiện tại. Do đó, các doanh nghiệp có thể thuê tất cả số lao động muốn mà không ảnh hưởng đến mức lương (lương không tăng).
Như vậy, trong mô hình tổng cung Keynes, giá cả và tiền lương không đổi.

2. Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong tổng cung Keynes
Giả sử rằng có sự gia tăng về tổng cầu AD do chi tiêu chính phủ tăng hay cung tiền tăng, đường AD dịch chuyển sang phải. Tuy nhiên, đường tổng cung Keynes là đường nằm ngang nên ảnh hưởng dài hạn là sự thay đổi về thu nhập thực tại mức giá hiện tại P1.
 Hình: chính sách tài khoá và tiền tệ có ảnh hưởng đến sản lượng cân bằng

Tóm tắt ảnh hưởng của chính sách tài khoá và tiền tệ (mở rộng).

Chính sách
Tổng cung
Sản lượng
Lãi suất
Giá cả
Tài khoá
Keynes
+
+
0
Cổ điển
0
+
+
Tiền tệ
Keynes
+
-
0
Cổ điển
0
+
+
Ghi chú: (+) có tác động tăng; (-) có tác động giảm; (0) không tác động

Hai trường hợp đặc biệt trên về đường tổng cung AS phản ánh hai quan điểm khác nhau về sự hoạt động của giá cả và tiền lương trong nền kinh tế thị trường.
Trong mô hình cổ điển khẳng định rằng những điều chỉnh trong giá cả và tiền lương xảy ra nhanh chóng (rất linh hoạt) trong khi đó trong mô hình Keynes lại khẳng định giá cả và tiền lương là cứng nhắc. Sự khác nhau này còn bao hàm cả quan điểm khác nhau về tốc độ điều chỉnh của nền kinh tế.

Sự khác nhau của hai trường phái là tốc độ của quá trình điều chỉnh nền kinh tế. Do đó, đến nay các nhà kinh tế học đã thống nhất thừa nhận rằng mô hình Keynes mô tả hành vi nền kinh tế trong ngắn hạn, còn mô hình cổ điển mô tả hành vi nền kinh tế trong dài hạn.
Trong thực tế, theo trường phái Tân cổ điển, giá cả và tiền lương không hoàn toàn linh hoạt và cũng không hoàn toàn cứng nhắc. Đường tổng cung AS trong thực tế phải là một đường dốc lên nhất định.

Download toàn bộ bài viết tại đây

Mối quan hệ giữa độ dốc đường LM và hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

___________________________________________________________________

1. Đường LM dốc
Đường LM dốc có nghĩa là cầu tiền kém nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số co giãn h nhỏ). Bây giờ chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong mô hình IS – LM.

- Chính sách tài khoá
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tài khóa

Quan sát hình vẽ trên đây chúng ta thấy, nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra kém hiệu quả (tác động nhỏ đến sản lượng). Mặc dù lãi suất thị trường tăng nhưng cầu tiền đầu cơ giảm ít (do cầu tiền kém nhạy cảm đối với lãi suất) vì vậy cầu tiền giao ḍich tăng ít để đảm bảo thị trường tiền tệ cân bằng (cung tiền không đổi). Khi cầu tiền giao dịch tăng ít, điều này có nghĩa là sản lượng Y tăng ít (với một hệ số k cho trước). Như vậy, chính sách tài khoá kém hiệu quả (tác động lên sản lượng nhỏ).

- Chính sách tiền tệ
Giả sử NHTW thực hiện chính sách tăng cung tiền (đường LM dịch sang phải), do đường LM dốc nên khi lãi suất giảm thì cầu tiền đầu cơ L2 tăng ít. Khi L2 tăng ít thì buộc cầu tiền giao dịch L1 tăng nhiều để cân bằng với mức cung tiền mới đã tăng lên. Khi cầu tiền giao dịch tăng nhiều có nghĩa là sản lượng hay thu nhập phải tăng lên nhiều. Như vậy chính sách tiền tệ trong trường hợp này có hiệu quả (chính sách tiền tệ tác động lên sản lượng cân bằng Y lớn, hãy quan sát hình vẽ dưới đây).
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tiền tệ

2. Đường LM thoải
Đường LM thoải có nghĩa là cầu tiền rất nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số co giãn h nhỏ). Bây giờ chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tài khóa

Quan sát hình vẽ trên đây chúng ta thấy, nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra rất hiệu quả (tác động khá lớn đến sản lượng). Khi lãi suất suất thị trường tăng làm cầu tiền đầu cơ giảm nhiều (do cầu tiền rất nhạy cảm đối với lãi suất) vì vậy cầu tiền giao dịch phải tăng nhiều để đảm bảo thị trường tiền tệ cân bằng (cung tiền không
đổi). Khi cầu tiền giao dịch tăng nhiều thì điều này có nghĩa là sản lượng Y tăng nhiều (với một hệ số k cho trước). Như vậy, chính sách tài khoá khá hiệu quả (tác động lên sản lượng lớn).

- Chính sách tiền tệ
Giả sử NHTW thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch sang phải, do đường LM thoải do đó khi lãi suất giảm thì cầu tiền đầu cơ L2 tăng nhiều (do cầu tiền rất nhạy cảm đối với lãi suất). Khi L2 tăng nhiều thì buộc cầu tiền giao dịch L1 tăng ít để cân bằng với mức cung tiền mới đã tăng lên. Khi cầu tiền giao dịch tăng ít có nghĩa là sản lượng hay thu nhập phải tăng lên ít. Như vậy chính sách tiền tệ trong trường hợp này kém hiệu quả (chính sách tiền tệ tác động lên sản lượng cân bằng Y nhỏ, hãy quan sát hình dưới đây).
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tiền tệ

3.  Đường LM nằm ngang
Đường LM nằm ngang tức là cầu tiền co giãn hoàn toàn đối với lãi suất (hệ số h vô cùng lớn). Chúng ta hãy xem xét tính hiệu quả của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong trường hợp này.

- Chính sách tài khoá
Do đường LM nằm ngang nên khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng thì sản lượng sẽ tăng nhưng lãi suất không tăng. Do lãi suất thị trường không tăng nên  không có tác động vòng 2 (tức không có tác động ngược làm giảm sản lượng). Như vậy chính sách tài khoá hoàn toàn hiệu quả như trong mô hình Keynes giản đơn.
 Hình: Chính sách tài khóa hoàn toàn hiệu quả
- Chính sách tiền tệ
Quan sát hình vẽ dưới đây chúng ta thấy nếu khi thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì hoàn toàn không ảnh hưởng đến lãi suất do đó hoàn toàn không ảnh hưởng đến sản lượng, sản lượng không thay đổi. Như vậy chính sách tiền tệ hoàn toàn không hiệu quả. Trường hợp này người ta gọi là bẩy thanh khoản (liquidity trap).
 Hình: Chính sách tiền tệ hoàn toàn không hiệu quả

4. Đường LM thẳng đứng
Đương LM thẳng đứng tức là cầu tiền hoàn toàn không co giãn đối với lãi suất (hệ số h bằng không). Chúng ta hãy xem xét tính hiệu quả của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong trường hợp này.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ thực chính sách tài khoá mở rộng, các tác động của chính sách này như sau:
Tác động vòng 1: khi tăng chi tiêu chính phủ G thì sản lượng cân bằng Y và lãi suất đều tăng
Tác động vòng 2: khi lãi suất tăng thì đầu tư I giảm, tổng cầu AD giảm và sản lượng giảm.
Tác động của vòng 1 bằng tác động của vòng 2 hay có sự chèn lấn đầu tư toàn bộ. Tổng cầu và sản lượng không đổi chỉ có cơ cấu của tổng cầu thay đổi: chi tiêu chính phủ tăng trong khi đó đầu tư giảm xuống.
Cũng có thể giải thích theo cách khác như sau: khi tăng G thì đường IS dịch chuyển sang phải, lãi suất tăng lên. Tuy nhiên, do cầu tiền hoàn toàn không co giãn theo lãi suất nên L2 không đổi, mà do cung tiền cố định nên buộc L1 phải cố định để thị trường tiền tệ cân bằng. Khi cầu tiền L1 cố định tức sản lượng Y cũng không đổi. Như vậy chính sách tài khoá hoàn toàn không hiệu quả.
 Hình: Chính sách tài khóa hoàn toàn không hiệu quả

- Chính sách tiền tệ
Giả sử NHTW tăng cung tiền, tức M/P tăng, làm giảm lãi suất dẫn đến tăng đầu tư và tăng sản lượng. Do cầu tiền hoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất nên khi cung tiền tăng (lãi suất giảm) chỉ ảnh hưởng đến L1 (tăng lên), và do đó chỉ cầu tiền giao dịch L1 tăng (khi sản lượng Y tăng). Như vậy chính sách tiền tệ rất có hiệu quả.
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tiền tệ

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Mối quan hệ giữa độ dốc đường IS và hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

___________________________________________________________________
 
1. Đường IS dốc
Đường IS dốc khi đầu tư ít nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số d nhỏ). Trong trường hợp này chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và tiền tệ vào mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tài khóa

Quan sát hình vẽ trên chúng ta thấy rằng nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra rất hiệu quả (tác động đến sản lượng khá lớn). Nguyên nhân là ảnh hưởng chèn lấn đầu tư không đáng kể. Mặc dù lãi suất thị trường bị đẩy lên nhưng đầu tư giảm không đáng kể do đầu tư kém nhạy cảm đối với lãi suất vì vậy tác động ngược ở vòng 2 không đáng kể nên sản lượng tăng gần xấp xỉ với trường hợp trong mô h́nh Keynes giản đơn.

- Chính sách tiền tệ
Giả sử thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải, làm lãi suất thị trường giảm xuốngđáng kể nhưng vì đầu tư ít nhạy cảm với lãi suất nên đầu tư chỉ tăng lên rất ít. Chính v́ vậy mà sản lượng chỉ tăng lên một lượng rất nhỏ. Như vậy, chính sách tiền tệ trong trường hợp này không hiệu quả (tác động lên sản lượng cân bằng rất nhỏ).
 Hình:  Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tiền tệ

2. Đường IS thoải
Đường IS thoải khi đầu tư rất nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số d lớn). Bây giờ chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và tiền tệ vào mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
Quan sát hình vẽ dưới đây chúng ta thấy rằng nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra kém hiệu quả (tác động đến sản lượng nhỏ). Nguyên nhân là ảnh hưởng chèn lấn đầu tư rất lớn. Mặc dù lãi suất thị trường tăng lên ít nhưng đầu tư giảm đáng kể do đầu tư rất nhạy cảm đối với lãi suất vì vậy tác động ngược ở vòng 2 khá lớn nên làm cho sản lượng giảm nhiều. Tác động sau cùng là sản lượng có tăng từ Y1 lên Y2 nhưng sản lượng tăng không lớn.
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tài khóa

- Chính sách tiền tệ
Giả sử thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải, làm lãi suất thị trường giảm xuống không đáng kể (vì IS thoải) nhưng vì đầu tư rất nhạy cảm với lãi suất nên đầu tư tăng lên rất nhiều. Chính vì vậy mà sản lượng tăng lên một lượng khá lớn. Như vậy chính sách tiền tệ trong trường hợp này khá hiệu quả (tác động lên sản lượng cân bằng khá lớn).
 Hình : Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tiền tệ

3. Đường IS thẳng đứng
Đường IS thẳng đứng khi đầu tư hoàn toàn không co giãn theo lãi suất. Khi đó sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng đến lãi suất thì cũng không làm đầu tư thay đổi và do đó không tác động đến sản lượng. Đường IS thẳng đứng tại mức sản lượng hiện tại.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ tăng chi tiêu G, chính sách tài khoá có ảnh hưởng đến sản lượng và lãi suất nhưng sự thay đổi của lãi suất không ảnh hưởng đến đến đầu tư vì đầu tư không co giãn theo lãi suất. Do đó, không có ảnh hưởng chèn lấn đầu tư do chính sách tài khoá gây ra, chính sách tài khoá trong trường hợp này có hiệu quả.
 Hình: Chính sách tài khóa có hiệu quả

- Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ chỉ làm thay đổi lãi suất. Tuy nhiên do đầu tư hoàn toàn không co giãn theo lãi suất nên sự thay đổi lãi suất không làm thay đổi đầu tư và do đó không làm thay đổi sản lượng. Như vậy, chính sách tiền tệ hoàn toàn không hiệu quả.
 Hình: Chính sách tiền tệ không hiệu quả

4. Đường IS nằm ngang
Đường IS nằm ngang khi đầu tư hoàn toàn co giãn theo lãi suất. Khi đó sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào dẫn đến thay đổi lãi suất đều làm đầu tư thay đổi rất lớn và do đó làm sản lượng thay đổi.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ thực hiện chính sách tài khoá (tăng chi tiêu G), chính sách tài khoá không ảnh hưởng đến lãi suất và lãi suất. Do vậy chính sách tài khoá không hiệu quả.
  Hình: Chính sách tài khóa hoàn toàn không hiệu quả
- Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ không làm thay đổi lãi suất nhưng làm thay đổi sản lượng. (Thực ra khi thay đổi cung tiền lãi suất sẽ thay đổi. Ngay khi có một sự thay đổi nhỏ của lãi suất dẫn đến sự thay đổi lớn của đầu tư và sản lượng). Do không có sự thay đổi của lãi suất nên cầu đầu cơ L2 không thay đổi, toàn bộ sự thay đổi của mức cung tiền sẽ tác động lên mức cầu tiền giao dịch L1, dẫn đến sự thay đổi lớn trong sản lượng. Như vậy chính sách tiền tệ hoàn toàn có hiệu quả.

Hình: Chính sách tiền tệ hoàn toàn hiệu quả


Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Mức cầu tiền và cân bằng thị trường tiền tệ


___________________________________________________________________

1.Mức cầu tiền
1. 1. Khái niệm cầu tiền
- Cầu tiền (LP) là lượng tiền mà mọi người muốn nắm giữ. Lượng tiền nắm giữ có thể là tiền mặt ngoài Ngân hàng hoặc tiền gửi sử dụng Séc.
- Theo John Maynard Keynes, có ba động cơ làm cho mỗi người chúng ta muốn nắm giữ tiền: động cơ giao dịch (transactions demand for money), động cơ dự phòng (precautionary demand for money) và động cơ đầu cơ (speculative demand for money). Lượng tiền nắm giữ nhiều hay ít phụ thuộc vào hai yếu tố: lãi suất và thu nhập.

1. 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ:
1.2.1. Lãi suất
            Lãi suất là cái giá phải trả khi vay tiền, hay nói chính xác hơn là cái giá phải trả khi nắm giữ tiền trong tay.
            Đối với cầu giao dịch dự phòng, khi lãi suất tăng thì cầu tiền để giao dịch và dự phòng sẽ giảm. Lý do là khi giữ tiền trong tay người ta phải chịu một khoản chi phí cơ hội, cho dù đó là tiền mặt hay tiền trong tài khoản séc. Chi phí cơ hội của việc giữ tiền là lãi suất mà lẽ ra bạn có thể được hưởng bằng cách này hay cách khác, nếu như không giữ tiền. Như vậy, khi lãi suất
càng cao thì chi phí cơ hội càng lớn. Lúc đó người ta càng ít muốn giữ tiền trong tay, tức là cầu về tiền để giao dịch và dự phòng giảm.
            Đối với cầu đầu cơ, theo Keynes thì lãi suất tăng cũng làm giảm cầu về tiền để đầu cơ.
            Tóm lại, cầu về tiền nghịch biến với lãi suất.
1.2.2. Thu nhập thực tế (sản lượng)
            Đối với cầu giao dịch dự phòng, sản lượng tăng làm cho cầu về tiền để giao dịch và dự phòng tăng. Vì Y tăng => YD tăng C=> tăng => Lượng tiền nắm giữ hàng ngày cũng phải tăng theo. Mặt khác, Y tăng làm cho hộ gia đình có khuynh hướng để tiền dự phòng nhiều hơn, làm tăng cầu về tiền để dự phòng.
            Đối với cầu đầu cơ, sản lượng tăng cũng làm tăng cầu đầu cơ. Bởi vì, thu nhập tăng sẽ làm tăng nguồn tiền cất giữ như một loại tài sản. Do đó, cầu đầu cơ tăng khi sản lượng tăng.
1.2.3. Hàm cầu tiền
Quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi suất và mức cầu tiền được gọi là hàm cầu về tiền. Phương trình đường cầu tiền có dạng:
LP = k.Y - h.i
k,h là các hệ số phản ánh độ nhạy cảm của mức cầu tiền đối với thu nhập và lãi suất.
Đồ thị:

Đồ thị cho biết:
Khi thu nhập tăng tới Y1 thì LP dịch chuyển đến LP1. Tức là cùng với mức lãi suất io nhưng cầu về tiền lớn hơn (LP1>LPo) khi thu nhập tăng lên (Y1>Yo).

2. Cân bằng thị trường tiền tệ
- Thị trường tiền tệ cân bằng khi: MS  = LP

Đồ thị cho thấy: - Eo là điểm cân bằng của thị trường tiền tệ.
- Tại mức lãi suất cân bằng io mức cầu tiền vừa đúng bằng     mức cung tiền.
            Ở mức lãi suất thấp hơn i0 sẽ có mức dư cung trái phiếu tương ứng làm cho giá trái phiếu giảm xuống, lợi tức trái phiếu tăng lên và đẩy lãi suất thị trường lên tới i0.
            Sự dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng của thị trường tiền tệ.
            Đồ thị dưới cho biết:

            Khi NHTW tác động đến mức cung tiền, giả sử là bán trái phiếu hoặc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc dẫn đến lượng cung tiền giảm xuống, đường cung tiền sẽ dịch chuyển từ M0 sang M1 và lãi suất cân bằng sẽ từ io lên i1.
            Giảm cung tiền từ Mo => M1 dẫn đến lãi suất tăng lên để giảm mức dư cầu tiền do mức cung tiền giảm đi.
            Khi thu nhập thực tế GNPr tăng lên => nhu cầu tiền cho giao dịch tăng lên. Với mỗi mức lãi suất, lợi ích cận biên của việc gửi tiền tăng lên và làm tăng mức cầu tiền thực tế, đường cầu tiền sẽ dịch chuyển từ LPo => LP1. Với mức cung tiền M1, lãi suất cân bằng sẽ dịch chuyển từ i1 đến i2 điểm cân bằng mới của thị trường tiền tệ là E”.

Việc kiểm soát tiền tệ thực tế phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô là rất khó. Có hai cách kiểm soát, hoặc là kiểm soát mức cung tiền thì lãi suất thị trường sẽ lên xuống bởi tác động của cầu, hoặc kiểm soát lãi suất (ổn định lãi suất) thì buộc phải để lực lượng thị trường quyết định mức cung tiền. Cả hai cách đều gặp những khó khăn nhất định như khi kiểm soát lượng tiền cơ sở H thì vấp phải vấn đề hạn chế tiền mặt và tín dụng gây khó khăn cho hoạt động NHTM và các hoạt động giao dịch, khi kiểm soát LS lại gặp khó khăn trong nhận biết chính xác đường cầu tiền và sự dịch chuyển của nó,…