Showing posts with label độ dốc. Show all posts
Showing posts with label độ dốc. Show all posts

Mối quan hệ giữa độ dốc đường LM và hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

___________________________________________________________________

1. Đường LM dốc
Đường LM dốc có nghĩa là cầu tiền kém nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số co giãn h nhỏ). Bây giờ chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong mô hình IS – LM.

- Chính sách tài khoá
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tài khóa

Quan sát hình vẽ trên đây chúng ta thấy, nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra kém hiệu quả (tác động nhỏ đến sản lượng). Mặc dù lãi suất thị trường tăng nhưng cầu tiền đầu cơ giảm ít (do cầu tiền kém nhạy cảm đối với lãi suất) vì vậy cầu tiền giao ḍich tăng ít để đảm bảo thị trường tiền tệ cân bằng (cung tiền không đổi). Khi cầu tiền giao dịch tăng ít, điều này có nghĩa là sản lượng Y tăng ít (với một hệ số k cho trước). Như vậy, chính sách tài khoá kém hiệu quả (tác động lên sản lượng nhỏ).

- Chính sách tiền tệ
Giả sử NHTW thực hiện chính sách tăng cung tiền (đường LM dịch sang phải), do đường LM dốc nên khi lãi suất giảm thì cầu tiền đầu cơ L2 tăng ít. Khi L2 tăng ít thì buộc cầu tiền giao dịch L1 tăng nhiều để cân bằng với mức cung tiền mới đã tăng lên. Khi cầu tiền giao dịch tăng nhiều có nghĩa là sản lượng hay thu nhập phải tăng lên nhiều. Như vậy chính sách tiền tệ trong trường hợp này có hiệu quả (chính sách tiền tệ tác động lên sản lượng cân bằng Y lớn, hãy quan sát hình vẽ dưới đây).
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tiền tệ

2. Đường LM thoải
Đường LM thoải có nghĩa là cầu tiền rất nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số co giãn h nhỏ). Bây giờ chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tài khóa

Quan sát hình vẽ trên đây chúng ta thấy, nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra rất hiệu quả (tác động khá lớn đến sản lượng). Khi lãi suất suất thị trường tăng làm cầu tiền đầu cơ giảm nhiều (do cầu tiền rất nhạy cảm đối với lãi suất) vì vậy cầu tiền giao dịch phải tăng nhiều để đảm bảo thị trường tiền tệ cân bằng (cung tiền không
đổi). Khi cầu tiền giao dịch tăng nhiều thì điều này có nghĩa là sản lượng Y tăng nhiều (với một hệ số k cho trước). Như vậy, chính sách tài khoá khá hiệu quả (tác động lên sản lượng lớn).

- Chính sách tiền tệ
Giả sử NHTW thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch sang phải, do đường LM thoải do đó khi lãi suất giảm thì cầu tiền đầu cơ L2 tăng nhiều (do cầu tiền rất nhạy cảm đối với lãi suất). Khi L2 tăng nhiều thì buộc cầu tiền giao dịch L1 tăng ít để cân bằng với mức cung tiền mới đã tăng lên. Khi cầu tiền giao dịch tăng ít có nghĩa là sản lượng hay thu nhập phải tăng lên ít. Như vậy chính sách tiền tệ trong trường hợp này kém hiệu quả (chính sách tiền tệ tác động lên sản lượng cân bằng Y nhỏ, hãy quan sát hình dưới đây).
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tiền tệ

3.  Đường LM nằm ngang
Đường LM nằm ngang tức là cầu tiền co giãn hoàn toàn đối với lãi suất (hệ số h vô cùng lớn). Chúng ta hãy xem xét tính hiệu quả của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong trường hợp này.

- Chính sách tài khoá
Do đường LM nằm ngang nên khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng thì sản lượng sẽ tăng nhưng lãi suất không tăng. Do lãi suất thị trường không tăng nên  không có tác động vòng 2 (tức không có tác động ngược làm giảm sản lượng). Như vậy chính sách tài khoá hoàn toàn hiệu quả như trong mô hình Keynes giản đơn.
 Hình: Chính sách tài khóa hoàn toàn hiệu quả
- Chính sách tiền tệ
Quan sát hình vẽ dưới đây chúng ta thấy nếu khi thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì hoàn toàn không ảnh hưởng đến lãi suất do đó hoàn toàn không ảnh hưởng đến sản lượng, sản lượng không thay đổi. Như vậy chính sách tiền tệ hoàn toàn không hiệu quả. Trường hợp này người ta gọi là bẩy thanh khoản (liquidity trap).
 Hình: Chính sách tiền tệ hoàn toàn không hiệu quả

4. Đường LM thẳng đứng
Đương LM thẳng đứng tức là cầu tiền hoàn toàn không co giãn đối với lãi suất (hệ số h bằng không). Chúng ta hãy xem xét tính hiệu quả của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong trường hợp này.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ thực chính sách tài khoá mở rộng, các tác động của chính sách này như sau:
Tác động vòng 1: khi tăng chi tiêu chính phủ G thì sản lượng cân bằng Y và lãi suất đều tăng
Tác động vòng 2: khi lãi suất tăng thì đầu tư I giảm, tổng cầu AD giảm và sản lượng giảm.
Tác động của vòng 1 bằng tác động của vòng 2 hay có sự chèn lấn đầu tư toàn bộ. Tổng cầu và sản lượng không đổi chỉ có cơ cấu của tổng cầu thay đổi: chi tiêu chính phủ tăng trong khi đó đầu tư giảm xuống.
Cũng có thể giải thích theo cách khác như sau: khi tăng G thì đường IS dịch chuyển sang phải, lãi suất tăng lên. Tuy nhiên, do cầu tiền hoàn toàn không co giãn theo lãi suất nên L2 không đổi, mà do cung tiền cố định nên buộc L1 phải cố định để thị trường tiền tệ cân bằng. Khi cầu tiền L1 cố định tức sản lượng Y cũng không đổi. Như vậy chính sách tài khoá hoàn toàn không hiệu quả.
 Hình: Chính sách tài khóa hoàn toàn không hiệu quả

- Chính sách tiền tệ
Giả sử NHTW tăng cung tiền, tức M/P tăng, làm giảm lãi suất dẫn đến tăng đầu tư và tăng sản lượng. Do cầu tiền hoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất nên khi cung tiền tăng (lãi suất giảm) chỉ ảnh hưởng đến L1 (tăng lên), và do đó chỉ cầu tiền giao dịch L1 tăng (khi sản lượng Y tăng). Như vậy chính sách tiền tệ rất có hiệu quả.
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tiền tệ

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Mối quan hệ giữa độ dốc đường IS và hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

___________________________________________________________________
 
1. Đường IS dốc
Đường IS dốc khi đầu tư ít nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số d nhỏ). Trong trường hợp này chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và tiền tệ vào mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tài khóa

Quan sát hình vẽ trên chúng ta thấy rằng nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra rất hiệu quả (tác động đến sản lượng khá lớn). Nguyên nhân là ảnh hưởng chèn lấn đầu tư không đáng kể. Mặc dù lãi suất thị trường bị đẩy lên nhưng đầu tư giảm không đáng kể do đầu tư kém nhạy cảm đối với lãi suất vì vậy tác động ngược ở vòng 2 không đáng kể nên sản lượng tăng gần xấp xỉ với trường hợp trong mô h́nh Keynes giản đơn.

- Chính sách tiền tệ
Giả sử thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải, làm lãi suất thị trường giảm xuốngđáng kể nhưng vì đầu tư ít nhạy cảm với lãi suất nên đầu tư chỉ tăng lên rất ít. Chính v́ vậy mà sản lượng chỉ tăng lên một lượng rất nhỏ. Như vậy, chính sách tiền tệ trong trường hợp này không hiệu quả (tác động lên sản lượng cân bằng rất nhỏ).
 Hình:  Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tiền tệ

2. Đường IS thoải
Đường IS thoải khi đầu tư rất nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số d lớn). Bây giờ chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và tiền tệ vào mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
Quan sát hình vẽ dưới đây chúng ta thấy rằng nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra kém hiệu quả (tác động đến sản lượng nhỏ). Nguyên nhân là ảnh hưởng chèn lấn đầu tư rất lớn. Mặc dù lãi suất thị trường tăng lên ít nhưng đầu tư giảm đáng kể do đầu tư rất nhạy cảm đối với lãi suất vì vậy tác động ngược ở vòng 2 khá lớn nên làm cho sản lượng giảm nhiều. Tác động sau cùng là sản lượng có tăng từ Y1 lên Y2 nhưng sản lượng tăng không lớn.
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tài khóa

- Chính sách tiền tệ
Giả sử thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải, làm lãi suất thị trường giảm xuống không đáng kể (vì IS thoải) nhưng vì đầu tư rất nhạy cảm với lãi suất nên đầu tư tăng lên rất nhiều. Chính vì vậy mà sản lượng tăng lên một lượng khá lớn. Như vậy chính sách tiền tệ trong trường hợp này khá hiệu quả (tác động lên sản lượng cân bằng khá lớn).
 Hình : Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tiền tệ

3. Đường IS thẳng đứng
Đường IS thẳng đứng khi đầu tư hoàn toàn không co giãn theo lãi suất. Khi đó sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng đến lãi suất thì cũng không làm đầu tư thay đổi và do đó không tác động đến sản lượng. Đường IS thẳng đứng tại mức sản lượng hiện tại.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ tăng chi tiêu G, chính sách tài khoá có ảnh hưởng đến sản lượng và lãi suất nhưng sự thay đổi của lãi suất không ảnh hưởng đến đến đầu tư vì đầu tư không co giãn theo lãi suất. Do đó, không có ảnh hưởng chèn lấn đầu tư do chính sách tài khoá gây ra, chính sách tài khoá trong trường hợp này có hiệu quả.
 Hình: Chính sách tài khóa có hiệu quả

- Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ chỉ làm thay đổi lãi suất. Tuy nhiên do đầu tư hoàn toàn không co giãn theo lãi suất nên sự thay đổi lãi suất không làm thay đổi đầu tư và do đó không làm thay đổi sản lượng. Như vậy, chính sách tiền tệ hoàn toàn không hiệu quả.
 Hình: Chính sách tiền tệ không hiệu quả

4. Đường IS nằm ngang
Đường IS nằm ngang khi đầu tư hoàn toàn co giãn theo lãi suất. Khi đó sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào dẫn đến thay đổi lãi suất đều làm đầu tư thay đổi rất lớn và do đó làm sản lượng thay đổi.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ thực hiện chính sách tài khoá (tăng chi tiêu G), chính sách tài khoá không ảnh hưởng đến lãi suất và lãi suất. Do vậy chính sách tài khoá không hiệu quả.
  Hình: Chính sách tài khóa hoàn toàn không hiệu quả
- Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ không làm thay đổi lãi suất nhưng làm thay đổi sản lượng. (Thực ra khi thay đổi cung tiền lãi suất sẽ thay đổi. Ngay khi có một sự thay đổi nhỏ của lãi suất dẫn đến sự thay đổi lớn của đầu tư và sản lượng). Do không có sự thay đổi của lãi suất nên cầu đầu cơ L2 không thay đổi, toàn bộ sự thay đổi của mức cung tiền sẽ tác động lên mức cầu tiền giao dịch L1, dẫn đến sự thay đổi lớn trong sản lượng. Như vậy chính sách tiền tệ hoàn toàn có hiệu quả.

Hình: Chính sách tiền tệ hoàn toàn hiệu quả


Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Đường LM


___________________________________________________________________
1. Định nghĩa

Đường LM là biểu thị những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân bằng của thị trường tiền tệ. Nói cách khác LM mô tả sự tác động của sản lượng đối với lãi suất cân bằng (cho biết lãi suất cân bằng thay đổi như thế nào khi sản lượng thay đổi trong điều kiện cố định các yếu tố khác)
2. Thành lập mô hình
Vì giả thiết rằng lượng cầu tiền L luôn bằng lượng cung tiền M, nghĩa là không đổi. Nên hễ thu nhập Y tăng, thì lượng cầu tiền vì mục đích giao dịch sẽ tăng lên. Lượng cầu tiền dự trữ vì mục đích đầu cơ vì thế sẽ giảm đi; và để đảm bảo điều đó, lãi suất thực tế r cần phải tăng lên. Tóm lại, khi xét từ góc độ thị trường tiền tệ cân bằng, khi thu nhập tăng thì lãi suất thực tế cũng sẽ tăng; và ngược lại.

Như vậy, đường LM biểu diễn một tập hợp các điểm cân bằng trên thị trường tiền tệ sẽ là đuờng dốc lên phía phải trên một đồ thị hai chiều với trục hoành là các mức thu nhập Y, còn trục tung là các mức lãi suất thực r (xem Hình 1).
    Phương trình đường LM : M / P = L ( Y , r )
M : cung tiền
M / P : cung tiền thực tế
L ( Y , r ) : hàm cầu tiền phụ thuộc vào thu nhập và lãi suất
3. Vận dụng mô hình
Bây giờ, giả dụ cơ quan quản lý tiền tệ quyết định tăng lượng cung tiền M. Để cho thị trường tiền tệ luôn cân bằng, lượng cầu tiền L cũng sẽ tăng lên tương ứng. Với cùng một mức lãi suất thực nên lượng cầu tiền dự trữ để đầu cơ sẽ không đổi. Vì thế, lượng cung tiền L tăng thực chất là do lượng cầu tiền vì mục đích giao dịch tăng. Muốn thế, thu nhập Y phải tăng. Nói chính sách nới lỏng tiền tệ kích thích kinh tế tăng trưởng chính là dựa vào cơ chế nói trên.
Trên đồ thị, đường LM sẽ dịch song song sang phía phải khi lượng cung tiền M tăng.
4. Các yếu tố làm dịch chuyển LM
- Sự dịch chuyển mức cầu tiền do sự tăng lên mức cung tiền danh nghĩa, hoặc một sự giảm giá.
Ví dụ khi mức tiền cung ứng thực tế tăng lên, (hình dưới đây).
- Một sự tăng lên cung tiền danh nghĩa tạo ra sự tăng lên trong cung tiền thực tế đến M1/P.
- Tại mức lãi suất ban đầu, có một sự dư cung hay thặng dư tiền thực tế trong lưu thông, so với mức mà các hộ gia đình và doanh nghiệp muốn nắm giữ.
- Các hộ gia đình muốn xoá bỏ sự dư cung tiền này, bằng cách gửi tiền vào ngân hàng, dùng tiền để mua các phương tiện tài chính khác,v.v..
- Những hành động này của hộ gia đình và doanh nghiệp dẫn đến giảm mức lãi suất (cần thiết để khuyến khích mọi người bán trái phiếu, v.v..)
- Giảm mức lãi suất dẫn đến một cân bằng mới thị trường tiền tệ, tại mức lãi suất thấp hơn nhưng GDP thực tế vẫn giữ nguyên.
- Trong phần (b) của hình, chúng ta thấy điều này là sự dịch chuyển xuống của đường LM, đề biểu thị sự kết hợp r, Y theo sự thay đổi trong cung tiền.
5. Độ dốc của đường LM
- Giá trị của h (độ nhạy cảm của cầu tiền với lãi suất) càng lớn thì đường LM càng thoải (và ngược lại). Giá trị h lớn thể hiện độ co giãn của cầu tiền đối với lãi suất cao hay nói cách khác khi lãi suất thay đổi ít nhưng làm cho cầu tiền thay đổi nhiều ( và ngược lại, lãi suất thay đổi nhiều nhưng cầu tiền thay đổi ít
- Giá trị của k (độ nhạy cảm của cầu tiền đối với thu nhập) càng nhỏ thì đường LM càng thoải ( và ngược lại). Gía trị k nhỏ thể hiện độ co giãn của cầu tiền đối với thu nhập nhỏ hay nói cách khác khi thu nhập thay đổi nhiều nhưng làm cầu tiền thay đổi không đáng kể ( và ngược lại khi thu nhập thay đổi ít nhưng làm cầu tiền thay đổi nhiều)
6. Các trường hợp đường LM đặc biệt

  - Trường hợp thứ nhất tương ứng với tình huống cá nhân thà giữ tiền mặt hoàn toàn, đó là khi lãi suất quá thấp và các tài sản như trái phiếu chỉ đem lại lợi tức không đáng kể.
  - Trường hợp thứ hai tương ứng với tình huống cá nhân đem hết số tiền dự trữ để đầu cơ chuyển thành các tài sản có lợi tức, thành ra số tiền còn nắm giữ vì mục đích đầu cơ bằng không.


nguồn Mankiw, Gregory N. (2002), Macroeconomics, Fifth Edition, Worth Publisher.

Download toàn bộ bài viết tại đây

Kinh tế vĩ mô - Đường IS

____________________________________________________________________________
1. Định nghĩa

Tập hợp những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân bằng của thị trường hàng hóa sẽ được một đường gọi là đường IS. Đường IS mô tả sự tác động của lãi suất đối với sản lượng cân bằng (sản lượng cân bằng thay đổi như thế nào khi lãi suất thay đổi trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi)
2. Thành lập mô hình
 -  Lãi suất r tăng, khiến cho đầu tư I giảm đi.
 -  Tiết kiệm S luôn bằng đầu tư I, nên khi đầu tư giảm thì thu nhập Y phải giảm để cho tiết kiệm giảm xuống.
-  Biểu diễn quan hệ nghịch đảo giữa lãi suất r và thu nhập Y để đảm bảo cần bằng thị trường hàng hóa vĩ mô này trên đồ thị hai chiều với trục hoành là các mức thu nhập Y, còn trục tung là các mức lãi suất r, ta sẽ có một đường IS là tập hợp của các mức tiết kiệm và thu nhập bằng nhau làm cân bằng thị trường hàng hóa vĩ mô. Đường này dốc xuống phía phải.
-  Phương trình đường IS: Y = C ( Y - T ) + I ( r ) + G
3. Vận dụng mô hình
Vì nguyên nhân nào đó (chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế dẫn tới chi tiêu ròng của chính phủ tăng lên (xem Chính sách tài chính), lãi suất r không đổi mà đầu tư I lại tăng lên. Tiết kiệm S phải tăng theo đầu tư. Và thu nhập Y phải tăng lên để cho tiết kiệm tăng. Khi r không đổi mà Y tăng, đường IS dịch song song sang phía phải của đồ thị.
Ngược lại, khi r không đổi mà Y giảm, đường IS dịch song song sang phía trái.
4. Các yếu tố làm dịch chuyển IS
-  G (chi tiêu chính phủ), T (thuế): Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa làm tăng G (giảm T) sẽ làm IS dịch chuyển sang phải.
 - Cú sốc ngoại sinh : Cú sốc ngoại sinh của người tiêu dùng ,nhà đầu tư làm tăng I (đầu tư),C (chi tiêu cá nhân) ngoại sinh sẽ làm dịch chuyển IS phải.
5. Độ dốc của đường IS
- Đường IS có độ dốc âm: bởi vì r(lãi suất), I(đầu tư) có quan hệ ngược chiều với nhau. Độ dốc của IS phụ thuộc vào độ nhạy cảm của I(đầu tư) phản ánh qua lãi suất, giá trị của số nhân chi tiêu.
 - Sự nhạy cảm của đầu tư với lãi suất:
      Đầu tư rất nhạy cảm:một sự thay đổi nhỏ của lãi suất cũng làm cho đầu tư và chi tiêu thay đổi một lượng lớn => thu nhập thay đổi nhiều, đường IS sẽ thoải.
        Đầu tư ít nhạy cảm: ngược lại.
-  Giá trị của số nhân chi tiêu(m):
       + Nếu số nhân chi tiêu lớn thì thu nhập cân bằng tăng nhiều. Do vậy đường IS sẽ thoải.
      +  Nếu số nhân chi tiêu nhỏ thì ngược lại.
6. Các trường hợp đường IS đặc biệt
 - Đường IS thẳng đứng:
Trong mô hình chuẩn trình bày ở trên, chúng ta giả thiết là đầu tư I là hàm số giảm của lãi suất r. Tuy nhiên, nếu nới lỏng giả thiết này, và cho rằng đầu tư hoàn toàn không có phản ứng gì khi lãi suất thay đổi (dI/dr=0). Khi ấy tiết kiệm S cũng không hề thay đổi. Thu nhập Y cũng không thay đổi. Tóm lại, dù lãi suất thay đổi, nhưng thu nhập không đổi. Đường IS vì thế thẳng đứng. 
 - Đường IS nằm ngang:
Giả dụ, bây giờ đầu tư I lại phản ứng mạnh vô hạn với những thay đổi của lãi suất r. Lúc này đường IS sẽ nằm ngang.


(nguồn Mankiw, Gregory N. (2002), Macroeconomics, Fifth edition, Worth Publisher)

Download toàn bộ bài viết tại đây



Kinh tế vĩ mô - cầu và tổng cầu

___________________________________________________________________

1. Khái niệm
Cầu (D - Demand) Là số lượng hàng hoá mà người tiêu dùng sẵn sàng mua và có khả năng mua ở mức giá khác nhau.
Tổng cầu (AD- Aggregate Demand) là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các chủ thể kinh tế muốn mua ở mỗi mức giá chung trong một khoảng thời gian nhất định và trong những điều kiện nhất định.
2. Phân  loại cầu
2.1. Xét theo chủ thể cầu
            - Cầu của hộ gia đình: Đó là các vật phẩm và dịch vụ dân dụng.
            - Cầu của các doanh nghiệp: đó là TLSX như máy móc, NVL,…
            - Cầu của CP: Các hàng hóa dịch vụ công cộng.
            - Cầu của thị trường quốc tế: là tổng giá trị xuất khẩu tính theo thống kê của hải quan.
2.2. Xét theo chu trình tái sản xuất xã hội
a. Cầu đầu tư
            Là nhu cầu hiện vật của toàn xã hội ứng với vốn đầu tư trong nước vào một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
            Kết cấu:
Cầu đầu tư = cầu đầu tư TSCĐ + cầu đầu tư TSLĐ
            Cầu đầu tư TSCĐ là tổng đầu tư TSCĐ trong toàn xã hội.       
b. Cầu tiêu dùng
Là toàn bộ HHVD dân sinh phạm trù định lượng chung về nhu cầu hàng tiêu dùng của toàn xã hội trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Kết cấu:
Cầu tiêu dùng = cầu tiêu dùng cá nhân + cầu tiêu dùng công cộng
Tóm lại:
Tổng cầu = cầu đầu tư + cầu tiêu dùng + cầu quốc tế
    = cầu đầu tư TSCĐ + cầu đầu tư TSLĐ + cầu tiêu dùng công cộng + cầu tiêu dùng cá nhân + tổng giá trị xuất khẩu
3. Các mô hình tổng cầu
3.1. Tổng cầu trong mô hình đơn giản    
            Giả định nền kinh tế chỉ có hai tác nhân chủ yếu: DN và HGĐ.
            Tổng cầu (AD - Aggregate Demand) là toàn bộ lượng hàng hóa và dịch vụ mà các hộ gia đình và các doanh nghiệp dự kiến chi tiêu, tương ứng với mức thu nhập của họ.      
         AD = C + I
AD - tổng cầu.
C - chi tiêu của hộ gia đình.
I - cầu đầu tư của hộ gia đình và doanh nghiệp.
3.2. Tổng cầu trong nền kinh tế đóng có Chính phủ
AD = C + I + G
        G - chi tiêu hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ.
3.3. Tổng cầu trong nền kinh tế mở
        Trong mô hình này, sẽ mở rộng đến khu vực ngoại thương, tức là khu vực xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Gọi: NX = X - IM là cán cân thương mại (còn gọi là giá trị xuất khẩu ròng).
NX > 0: Thặng dư mậu dịch (xuất siêu).
NX < 0: Thâm hụt mậu dịch (nhập siêu)
NX = 0: Cán cân thương mại cân bằng
AD = C + I + G + X – IM
4. Các yếu tố chi phối cầu
4.1. Giá cả của hàng hóa dịch vụ:
Giá cả và cầu nghịch biến
4.2. Giá cả hàng hóa tương tự hoặc có khả năng thay thế
            P hàng hóa thay thế đối với một mặt hàng nào đó biến động, thì cầu về hàng hóa này sẽ biến động theo và sự biến động diễn ra theo hướng thuận chiều.
4.3. Thu nhập của người tiêu dùng
            YD tăng thì AD tăng và ngược lại.
4.4. Số lượng người mua trên thị trường
Số người tiêu dùng càng đông thì AD càng lớn và ngược lại.
4.5. Sở thích của người tiêu dùng
            Đây là mối quan hệ tỷ lệ thuận, và quan hệ này rất khó định lượng.
4.6. Sự biến động của chính cơ cấu tổng cầu
            Như trên đã biết tổng cầu gồm ba bộ phận hợp thành là cầu về đầu tư, cầu tiêu dùng và nhu cầu nước ngoài. Nhưng cầu đầu tư và cầu tiêu dùng là những nhân tố quyết định tổng cầu.
a. Sự biến động của cầu đầu tư và ảnh hưởng của nó tới tổng cầu
Cầu đầu tư tỷ lệ thuận với AD.
Đầu tư tăng sẽ làm biến đổi nội dung vật chất của tổng cầu: Cầu đầu tư tăng làm cho tỷ lệ tích lũy sẽ tăng lên, tỷ lệ tiêu dùng giảm xuống  các sản phẩm phục vụ đầu tư tăng như nguyên, nhiên vật liệu,… tăng lên  từ đó nền sản xuất sẽ chuyển từ nền sản xuất nhiều tư liệu sinh hoạt sang nền sản xuất nhiều tư liệu sản xuất.
b. Sự ảnh hưởng của cầu tiêu dùng đến tổng cầu
            * Các nhân tố chi phối cầu tiêu dùng
            - Tổng cung: đây là nhân tố cơ bản nhất, quyết định sự gia tăng quỹ tiêu dùng, vì về cơ bản tiêu dùng bị hạn chế bởi trình độ phát triển của sản xuất.
            - Tỷ lệ các bộ phận khi phân phối thu nhập quốc dân.
            Sản xuất phát triển và thu nhập quốc dân tăng lên mới chỉ là tiền đề để tăng quỹ tiêu dùng.
            Trong điều kiện nhất định, sự tăng của quỹ tiêu dùng còn do tỷ lệ giá trị sản xuất cuối cùng dành cho tích lũy và tiêu dùng quyết định.
            Nguyên tắc xác định mức tối đa của quỹ tiêu dùng là phải đảm bảo mức tối thiểu của quỹ tích lũy nghĩa là phải đảm bảo cho các doanh nghiệp tiến hành tái sản xuất giản đơn một cách bình thường. Mức tối thiểu của quỹ tiêu dùng do cơ cấu dân cư và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên quyết định. Nguyên tắc xác định mức tối thiểu của quỹ tiêu dùng là phải đảm bảo mức tiêu dùng bình quân đầu người trong thời gian kế hoạch không thấp hơn mức tối thiểu. Nếu thấp hơn mức tối thiểu thì sẽ ảnh hưởng tới việc cải thiện tố chất người lao động.
            - Giá trị, giá trị sử dụng và giá cả của hàng tiêu dùng:
            Giá trị của hàng hóa thể hiện đẳng cấp chất lượng, giá cả tỷ lệ nghịch với với cầu tiêu dùng.
            - Một số nhân tố khác: thể chế phân phối thu nhập quốc dân là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới việc hình thành quỹ tiêu dùng trong thực tế đó là thuế, chế độ tiền lương, tiền công tối thiểu, tâm lý, tập quán,….
* Ảnh hưởng của cầu tiêu dùng tới tổng cầu
            Cầu tiêu dùng tăng Þ giảm tích lũy Þ giảm đầu tư Þ giảm tổng cầu.
            Cầu tiêu dùng giảm Þ tăng tích lũy Þ tăng đầu tư Þ tăng tổng cầu.
4.7. Sự ảnh hưởng của cầu xuất khẩu tới tổng cầu
            Xuất khẩu (X) tăng lên thì tổng cầu tăng và ngược lại.
            Ngoài ra, còn có một số nhân tố khác tác động tới AD đó là: nhập khẩu (IM), mức cung tiền (MS), tiết kiệm (S), thuế trực thu (Td).
5. Bảng cầu, lượng cầu và đường cầu
Bảng cầu (biểu cầu) là bảng mô tả sự biến thiên lượng cầu trong mối tương tác với một nhân tố nào đó mà lượng cầu có quan hệ nhân quả.
Lượng cầu là số lượng một loại hàng hóa nào đó mà người tiêu dùng muốn mua với một mức giá cả nhất định trong một điều kiện nhất định của các nhân tố khác.
Giá bán (USD/thùng)
Lượng cầu (nghìn thùng/tháng)
50
18
40
20
30
24
20
30
10
40

* Đường tổng cầu (AD)
Đường cầu là đường mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hoá mà người tiêu dùng sẵn sàng mua và có khả năng mua với các mức giá khác nhau.
 Vì khối lượng hàng hoá tỷ lệ nghịch với giá cả, nên đường cầu dốc xuống về  phía phải. Mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và sản lượng được gọi là luật cầu. Luật cầu tồn tại hay đường cầu dốc xuống là do:
- Khi giá của một mặt hàng nào đó giảm thì số người có khả năng mua sẽ tăng lên; khi giá tăng lên thì người mua sẽ giảm đi;
- Khi giá giảm xuống thì bản thân người tiêu dùng muốn mua nhiều hơn.
- Khi giá của hàng hoá thay đổi thì sẽ diễn ra sự di chuyển của các mức cầu trên đường cầu của chính hàng hoá đó.
- Độ cong của AD thể hiện sự biến thiên của mức độ phụ thuộc của cầu vào giá. Đường AD luôn có dạng cong (hyperbol) chứng tỏ mức độ phụ thuộc của cầu vào giá tăng dần.

Download toàn bộ bài viết tại đây